NGUYỄN XUÂN NGỌC
Những câu chuyện
CUỘC ĐỜI

Hồi ký

5NHỮNG CÂU CHUYỆN NGHĨA TÌNH

Kiều Mai Sơn

Đọc xong hồi ký Những câu chuyện cuộc đời của ông Nguyễn Xuân Ngọc (1922 - 2012), tôi muốn gọi đó là Những câu chuyện nghĩa tình. Bởi vì, như lời tâm sự của ông, viết hồi ký cá nhân mình cũng chính là kể tiếp câu chuyện về người vợ hiền đã đi trước: Bà Lê Tụy Phương (1921 - 2007), lão thành cách mạng, cán bộ Hội LHPN Việt Nam.

Khi bà đau yếu, ông đã hoàn thiện hồi ký của bà với tên gọi Nghĩa tình năm tháng cuộc đời do Nhà xuất bản Phụ nữ phát hành năm 2002. Được sự động viên của những người bạn cố tri là nhà báo Nguyễn Hạc Đạm Thư (cán bộ hưu trí Ban Đối ngoại - Hội LHPN Việt Nam) và nhà văn Nguyễn Thị Thanh Hương (nguyên Tổng Biên tập Báo Phụ nữ Việt Nam), ông Nguyễn Xuân Ngọc bắt tay vào viết hồi ký của cá nhân mình.

Ban đầu, ông không hăm hở, say mê viết hồi ký của mình như khi viết hồi ký Lê Tụy Phương. Sau nhiều đêm ngày trăn trở, suy nghĩ, ông dần xác định: Viết hồi ký không phải để in; viết hồi ký để lại cho con cháu, chắt, 6hậu duệ các đời sau. Khi đọc hồi ký, con cháu chắt của ông bà sẽ hiểu cha mẹ, ông bà, tổ tiên đã sống, phấn đấu gian khổ như thế nào trong thời đại của mình. Ông Ngọc còn thêm suy nghĩ: Những ai quan tâm tìm hiểu lịch sử cũng có thể tìm thấy ở cuốn hồi ký vài tư liệu bổ ích.

(*) Nhà báo, hiện sống và làm việc tại Hà Nội.

Hơn tất cả, ông chia sẻ: "Một điều quan trọng củng cố quyết tâm là tôi sẽ có cơ hội viết tiếp về Tụy Phương, mong sẽ bổ sung nhiều điều mới, nói được toàn diện hơn những gì đã viết về cuộc đời Tụy Phương". Đó là người bạn đời suốt ba phần tư thế kỷ ông Nguyễn Xuân Ngọc luôn thương nhớ.

Ông Nguyễn Xuân Ngọc sống ở Hà Nội từ nhỏ, nhưng gốc gác Hà Đông, quê cha là xã Mọc Xá, huyện Thanh Oai (sau này sáp nhập với xã bên thành Cao Dương), quê mẹ là xã Yên Mỹ, huyện Thanh Trì. Sau 16 năm đèn sách, ông có đủ vốn tri thức và bước vào đời, tham gia xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ vừa ra đời (9/1945) trong tư thế một trí thức trẻ yêu nước hành đạo phục vụ con người!

Những ai tìm hiểu, nghiên cứu về lịch sử Việt Nam hiện đại sẽ thấy một mẫu số chung: Trí thức Việt Nam theo cách mạng, "dấn thân lên non theo kháng chiến" trường kỳ, phục vụ Tổ quốc cho đến ngày thống nhất hai miền và cả đến khi đất nước Đổi mới (12/1986) có nhiều vất vả, nhọc nhằn cùng những nỗi khổ tâm riêng khó bề tâm sự. Cả một cuộc đời người trí thức luôn phải phấn đấu, đóng góp mà vẫn phải chịu cái tiếng tiểu tư sản, tư 7tưởng lập trường dễ bấp bênh, dao động. Ông Nguyễn Xuân Ngọc cũng không phải ngoại lệ!

Hồi ký không viết về thời gian công tác từ năm 1954 đến năm 1986. Trong quãng 32 năm đó có nhiều sự kiện rất đáng chú ý mà tác giả chỉ tâm sự với người nghe chứ không đưa vào trang viết. Ông nói với tôi, đại ý: Nếu viết thì phải viết sự thật. Viết ra sự thật sẽ động chạm đến người này người khác. Có người còn sống, có người đã khuất. Người khuất núi thì còn gia đình họ, con cháu họ. Ông không muốn gây xáo trộn... Có những điều đành "để gió cuốn đi"

Tôn trọng người kể, xong tôi bàn với ông chọn một cách ghép lại để ít nhiều trong hồi ký cũng sẽ có dấu ấn thời kỳ công tác trong 32 năm này của ông. Đó là những bài hồi ký viết về các bậc đàn anh: Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Thầy Võ Nguyên Giáp, Anh Nguyễn Duy Trinh... và người bạn Minh Chi - một nhà nghiên cứu Phật học hàng đầu Việt Nam.

Chuyên môn chính của ông là cán bộ kế hoạch song trong ông có tâm hồn văn chương của một người yêu văn, yêu thơ. Trong một lá thư gửi ông Ngọc ngày 22/4/2011, khi đọc bản thảo hồi ký, nhà văn Thanh Hương nhận xét: "Đọc nhiều chương, em thấy anh đúng là có tư chất và cốt cách một người viết văn chuyên nghiệp và có trí nhớ rất tốt".

Hồi ký này cho thấy bút lực của ông: logic về khoa học mà cũng bay bổng về văn chương. Hồi ký cho thấy chân 8dung phác mảnh một trí thức Việt Nam trí tuệ, uyên bác, nhân văn, có một tình yêu đặc biệt dành cho người bạn đời. Qua dăm bài thơ như hạt nắng chiều vương trong hồi ký cũng thể hiện một tâm hồn thơ lãng mạn, trữ tình, dấu ấn của thơ Pháp thế kỷ XVIII - XIX.

Bài thơ Bừng tỉnh, viết ngày 16/3/2005, tác giả nhớ lại chuyện xảy ra một chiều hoàng hôn và ban đêm trên đường Cổ Ngư bên bờ Hồ Tây trong thời đang yêu:

"Rung động thinh không
lảnh lót tiếng chuông Trấn Quốc
như từ ngàn xưa vọng lại,
nhẩn nha bắt nhịp thời gian".

Gửi thư cho gió, cảm xúc từ cõi tĩnh lặng của thời gian khiến tác giả không nguôi nhớ về người bạn đời đã nhẹ bước lên cõi tiên trước mình.

"Tôi vẫn biết
Viết vì mình, viết vì tôi
viết đời mình, viết đời tôi
viết miệt mài không ngơi nghỉ
Gửi gió mang đi
để nhịp đời không đứt đoạn".

9Như lời giới thiệu ban đầu, cuốn hồi ký từ khi còn là bản thảo đã được sự động viên, khích lệ của nhà văn Nguyễn Thị Thanh Hương. Đúng ra, người viết lời giới thiệu cho hồi ký Những câu chuyện cuộc đời là bà. Tuy nhiên, do tuổi đã cao (94 tuổi), sức khỏe yếu dần sau ngày người bạn đời là nhà văn Vũ Tú Nam ra đi, bà Thanh Hương không viết được lời giới thiệu cho cuốn sách. Tôi may mắn được tiếp bước ghi lại đôi điều. Phải nói rằng, ở đây là những câu chuyện nghĩa tình của một thế hệ trí thức Việt Nam. Thư gửi ông Ngọc ngày 22/4/2011, bà Thanh Hương bộc bạch:

"Một thực tế là em không thể thường xuyên đến gặp anh để bàn bạc công việc sửa chữa hoàn tất cuốn sách được...

Em nói tất cả ý kiến trên rất chân thành và nếu có gì phật ý xin anh đừng khó chịu với em nhé. Giúp gì được cho anh trong việc biên soạn cuốn hồi ký này em xin cố gắng vì như anh nói, xưa nay, từ những ngày ở Bản Quyên(1), Xuân Nguyên và Việt Triều(2) chưa ra đời, em đã là em kết nghĩa của chị và qua chị là em của anh.." Tròn 10 năm ngày ông Nguyễn Xuân Ngọc về đoàn tụ bên bà Lê Tụy Phương, cũng là tròn 100 năm sinh của ông, hồi ký Những câu chuyện cuộc đời, tác giả Nguyễn Xuân Ngọc đến với bạn đọc. Điều ông gửi gắm, tôi đã 10hoàn thành. Trước khi dừng bút, tôi xin ghi lại đây một trang nhật ký của ông 11 năm trước.

(1) Bản Quyên: Trụ sở Hội LHPN Việt Nam tại Chiến khu Việt Bắc.

(2) Xuân Nguyên, Việt Triều: Con trai và con gái ông bà Nguyễn Xuân Ngọc - Lê Tụy Phương.

"Nhật ký: Chủ nhật 3/4/2011 và thứ hai 4/4/2011

Có 2 việc vui:

Chủ nhật, Sơn đến, đã giải thích một số điều cơ bản. Sơn nhận lời hợp tác.

Với Thanh Hương biên tập. Tặng 2 người 2 câu: Gửi gắm - Kỳ vọng.

Thứ hai, hôm nay, Thanh Hương gọi đến, báo Hồn Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh đã in bài nói về anh chị, họ báo sẽ gửi ra 5 số.

Báo cho Thanh Hương biết: Sơn đã nhận lời"./.

11LỜI DẪN

Đầu năm 2002, Hồi ký Lê Tụy Phương Nghĩa tình năm tháng cuộc đời được xuất bản. Khoảng giữa năm, chị Đạm Thư bảo tôi: "Đang có đà, anh viết hồi ký của anh đi". Chị giục tôi vài lần. Mùng hai Tết ta năm 2003, chị sang Pháp công tác vài tháng. Tháng bảy, chị đến số 1 Nguyễn Đình Chiểu thăm tôi, nhưng thời gian này (từ 21/6 đến 3/9), tôi đang ở nhà Xuân Nguyên, nên tháng 9 tôi mới gặp chị. Chị hỏi: "Anh viết đến đâu '. Tôi trả lời: "Tôi mới viết được một số trang". Chị nói rồi?".

thêm: "Để mất đà quay lại viết khó lắm đấy".

Thực tình, tôi không hăm hở, say mê viết hồi ký của mình như khi viết hồi ký Lê Tụy Phương. Tôi tự hỏi: Viết cho ai? Viết gì? Để làm gì? Liệu có ích gì? Tôi dần xác định: Viết không phải để in; viết cho con cháu, chắt, hậu duệ các đời sau để chúng hiểu cha mẹ, ông bà, tổ tiên đã sống, phấn đấu gian khổ như thế nào trong thời đại của mình. Những ai quan tâm tìm hiểu lịch sử cũng có thể tìm thấy ở đây vài tư liệu bổ ích. Tụy Phương và tôi có thể tự hào, không chỉ là những nhân chứng lịch sử, mà còn là những nhân tố tích cực tham gia hai cuộc kháng chiến thần kì cho đến giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và tiếp đó là thời kì xây dựng hòa bình chủ nghĩa xã hội nhằm công nghiệp hóa và hiện đại hóá, xây dựng 12một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nội dung là những câu chuyện về cuộc đời, những gì tôi đã nghe, đã thấy, đã chiêm nghiệm; những sự kiện và nhân vật của thời đại: những tâm tư, cảm xúc trước thời cuộc... Hình thức linh hoạt, truyện ký, tùy bút, ký sự... Không nhất thiết tất cả đều phải tuần tự theo thời gian.

Một điều quan trọng củng cố quyết tâm là tôi sẽ có cơ hội viết tiếp về Tụy Phương, mong sẽ bổ sung nhiều điều mới, nói được toàn diện hơn những gì đã viết về cuộc đời Tụy Phương.

Sau nhiều đắn đo, do dự tôi chỉ thật sự khởi đầu tập Hồi ký này vào khoảng năm 2005, khi quyết định dịch để gửi cho bà bạn Elise Spivac chương 10 cuốn Hồi ký Nghĩa tình năm tháng cuộc đời. Chuyện là, tôi đã gửi cho Elise và Maya (học trò cũ của Tụy Phương) cuốn hồi ký mà không có bản dịch (mà thực ra cũng không thể nào dịch toàn bộ cuốn hồi ký dày 435 trang). Khi nhận được bản dịch này chị Elise tỏ ra hết sức phấn khởi, gửi lời cảm ơn, lại hỏi ai đánh máy bản viết này. Chính tôi đã học sử dụng máy vi tính để có thể tự mình đánh máy bản dịch gửi đi. Việc đánh máy vi tính trở thành điều kiện tiên quyết để tôi viết Hồi ký vì ở tuổi tôi ngón tay bắt đầu run, không có khả năng viết bằng tay những công trình dài nữa.

Tôi đặt tên cuốn sách: Những câu chuyện cuộc đời.

Nguyễn Xuân Ngọc

13Phần 1

TỪ KHI CHÀO ĐỜI ĐẾN TUỔI NGHỈ HƯU

(1986)

15Chương 1

CỘI NGUỒN

Tôi sống ở Hà Nội từ nhỏ, nhưng gốc gác Hà Đông, quê cha là xã Mọc Xá, huyện Thanh Oai (sau này sáp nhập với xã bên thành Cao Dương), quê mẹ là xã Yên Mỹ, huyện Thanh Trì. Hai huyện ấy đã cùng tỉnh Hà Đông sáp nhập vào thành phố Hà Nội mở rộng (tháng 8 năm 2008).

QUÊ NỘI

Từ Hà Nội về quê nội tôi khoảng 30 km. Qua thị xã Hà Đông, đến ngã ba Ba La - Bông Đỏ rẽ trái, đi một thôi đường dài tới thị trấn huyện lỵ Thanh Oai (tỉnh Hà Đông), rẽ phải đi hơn một ki-lô-mét giữa một cánh đồng rộng khô khốc tới ngã tư Vác, trên bờ con sông Bùi. Đây chính là quê cha, ở bên trái con đường, tên là "Mọc Xá xã, Thủy Cam tổng, Hà Đông tỉnh" (theo cách viết đảo ngược kiểu chữ Hán thời ấy).

Giấy khai sinh của tôi được lập ở quê nội, trong đó ghi ngày sinh 21 tháng 6 năm 1922. Nhưng không phải vậy. Mẹ tôi kể tôi sinh cuối năm Tân Dậu tại Hải Phòng, nơi bố tôi làm việc. Sau khi bố tôi chuyển về làm ăn sinh sống ở 16Hà Nội mới về làng làm giấy khai sinh cho tôi. Cuối năm Dậu có thể là 21/12/1921 hoặc 21/1/1922. Tôi "chọn ngày 21/1/1922" tức là vào tháng Chạp năm Tân Dậu, chỉ đổi một chữ số, và có ý giữ nguyên số ngày 21, là ngày sinh của tôi trùng với ngày sinh Tụy Phương. Vậy là, tuy vẫn phải dùng ngày sinh chính thức theo giấy tờ hợp pháp, nhưng tôi xác định ngày sinh phù hợp thực tế hơn là cả hai con số đều "số ảo". Điều ấy cũng chẳng quan trọng gì, chỉ phiền cho các thầy xem tử vi đoán mệnh, mà tôi thì lại không tin tử vi.

Tôi thuộc dòng họ Nguyễn Đình. Theo các cụ kể thì đây là dòng họ có đóng góp nhiều công đức cho làng, làm nhiều việc từ thiện cho dân.

Ông nội tôi sinh ra và sống thời thơ ấu ở làng. Cụ tên là Nguyễn Đình Lủ. Cụ lấy vợ người làng, sinh được một con trai duy nhất đặt tên là Nguyễn Đình Túc. Đó là bố tôi. Khi bố tôi ra Hà Nội và làm việc ở nhà in IDEO của Pháp, thì ở quê người ta gọi bố tôi là "Ông ký Túc", gọi mẹ tôi là "Bà ký Túc". Ra Hà Nội, bố tôi đổi tên là Nguyễn Xuân Lan, đặt tên tôi là Nguyễn Xuân Ngọc, rồi đến lượt tôi cũng theo nếp ấy đặt tên con là Nguyễn Xuân Nguyên (con trai), Nguyễn Xuân Như (con gái)... Họ hàng ở quê có người nhắc tôi rằng Mọc Xá không có họ Nguyễn Xuân, chỉ có họ Nguyễn Đình. Điều ấy chứng tỏ người dân quê tôi vẫn trân trọng gắn bó với dòng họ truyền thống. Bà nội tôi mất, bà vợ kế của ông tôi sinh hai người con trai, đặt tên là Nguyễn Đình Tích, Nguyễn Đình Kíu.

17Nhớ về làng Việt xưa, người ta nghĩ ngay đến cây đa, mái đình, bến nước, rồi lũy tre, những con trâu thủng thẳng gậm cỏ trên cánh đồng với chú bé, cô bé cưỡi trên lưng... Những yếu tố làm nên cảnh quan văn hoá độc đáo cùng vẻ đẹp nên thơ đầy sức quyến rũ, gợi lại trong tâm can những kỷ niệm nhớ thương, vui buồn với những ai đã một thời sống ở quê nhà.

Quê nội tôi cũng hội tụ đủ các yếu tố truyền thống ấy. Tuy không có bến nước nhưng trước mặt là con sông Bùi lượn lờ, nước trong, thuyền bè tuy không nhiều nhưng ngày đêm không ngớt qua lại, êm ắng, yên bình. Là giếng khơi trước cửa làng. Là cái đình đồ sộ án ngữ mặt tiền. Ai vào làng cũng phải đi qua trước cửa đình.

Làng tôi nghèo rớt. Đất chật, người đông, đẻ nhiều. Một điển hình của "nạn nhân mãn" ở đồng bằng Bắc Bộ. Sau ngày hòa bình lập lại (1955), tôi vào thăm một gia đình họ hàng ở rìa làng. Nhà gạch, mái ngói ba gian, ngang chưa đầy 3 mét, dài chưa đầy 10 mét, bước xuống bậc gạch là tới rìa mảnh ruộng rộng dài bằng đúng nền nhà, khoảng 30m' (một sào Bắc Bộ bằng 360m). Đủ hình dung ra cái tù túng của cuộc sống.

Nghề thủ công chủ yếu là phụ nữ làm nón bằng lá cọ mua của tư thương đưa từ miền núi về. Tha hương cầu thực hướng vào Hà Nội là con đường tất yếu để mưu sinh và thoát nghèo. Một số người có chút vốn liếng mở cửa hàng làm nghề hoặc kinh doanh nhỏ. Như cụ trưởng Lươn thuê một căn phòng nhỏ 7-8 m° ở đầu phố Hàng 18Nón, vừa làm cửa hàng bán nón, vừa làm nơi ở và sinh hoạt của cụ ông và cụ bà. Một cụ mở cửa hàng làm đồ sắt ở phố Hàng Thiếc, người con trai là lao động chủ lực... Phần đông lao động phổ thông, nhiều người bán hàng dạo trên các đường phố, ngõ ngách. Đêm đêm vang lên những tiếng rao kéo dài, lặp đi lặp lại đều đều theo nhịp chân rảo bước trên hè phố: "Ai mua bánh giò ơ - ơ ơ... Ai mua bánh mì, giò chả ơ ơ ơ...". Người dân Hà Nội quen dần với cái điệp khúc đêm hôm khuya khoắt này. Chúng là âm thanh thân thuộc đến mức trở thành dấu ấn đặc trưng của Thủ đô ngàn năm văn hiến. Rồi, khi chúng thưa vắng thì người ta nhớ, người ta lưu luyến, tiếc nuối, cũng như luyến tiếc tiếng leng keng của tàu điện một thời xa vắng.

Gần cuối chiến tranh chống Mỹ, xã Mọc Xá hợp nhất với xã bên thành xã Cao Dương. Nằm trong vòng ảnh hưởng của thị trấn, huyện lỵ Thanh Oai, quê tôi mấy năm gần đây thay đổi nhanh chóng theo xu hướng chung và những bước tiến mạnh mẽ của cả nước tiến lên công nghiệp hóa và hiện đại hóá. Luỹ tre làng không còn nữa. Chỉ một thời gian ngắn, như có phép thần, dọc hai bên đường từ huyện ly về làng, các nhà xây, cửa hàng mọc lên san sát thành phố, thành phường ngày đêm tấp nập người, xe... Một tiền bộ hứa hẹn một tương lai tươi sáng.

Tuy vậy, đây mới chỉ là những thay đổi ban đầu, con đường phía trước còn lắm cam go, cái lạc hậu, cái khó, cái nghèo còn đeo bám cộng đồng, không dễ phút chốc xoa bỏ.

19QUÊ NGOẠI

Làng Yên Mỹ quê ngoại tôi là rẻo đất bãi ngoài đê trải dọc hữu ngạn sông Hồng, gồm 11 xóm, hầu hết là nhà gianh vách đất, nối liền với nhau bằng một con đường đất hẹp, gồ ghề, ngoắt ngoéo, cách mép sông dăm bẩy trăm mét. Đó là mảnh đất trồng trọt độc nhất cho dăm bẩy trăm người dân đắp đổi qua ngày. Do ở gần thủ đô - khoảng 10km đường chim bay nên nhiều người kéo nhau ra thành phố kiếm sống. Trong số họ hàng gần xa của nhà ngoại, có ông bà TH ban đầu kinh doanh nhỏ, thuê nhà làm cửa hàng bán và sửa chữa đồ điện ở phố Lãn Ông, dần dần giàu lện, ông bà mua được nhà hai tầng khang trang ở giữa phố Khâm Thiên. Số đông là thợ điện làm thuê cho tư nhân, một số người dành dụm được một ít vốn mở cửa hàng bán đồ điện, vừa làm chủ vừa làm thợ tự do. Có người làm việc suốt đời cho Sở hỏa xa tại ga Hà Nội. Những người không có cửa hàng riêng thì vẫn cần cù, siêng năng hằng ngày cuốc bộ hay đạp xe, sáng đi chiều về. Từ khoảng năm 1939-1940, khi bố mẹ tôi dọn đến số 17 phố Chân Cầm (Rue Lagisquet), nhiều họ hàng làm ăn ở Hà Nội thỉnh thoảng ghé vào thăm hỏi, ấm áp tình quê hương.

Yên Mỹ vốn thuộc huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (cũ) đã sáp nhập vào thành phố Hà Nội, thành một xã 20ngoại thành từ vài chục năm trước, chuyên sản xuất, cung cấp rau xanh cho thành phố, và khoảng chục năm nay đã hưởng quy chế nội thành.

Lúc tôi còn rất nhỏ, mẹ tôi thường đưa tôi đi theo mỗi khi về quê thăm bố mẹ, họ hàng. Vì thế, tôi có những hiểu biết về quê ngoại nhiều hơn. Mỗi lần về quê, phải đi tàu hỏa đến ga Văn Điển, xuống đi bộ khoảng hơn 2km, dọc làng Cổ Điển, qua đình Ba Dân, qua một cánh đồng hoang, qua làng công giáo Đồng Trì, vượt đê, xuyên ngang bãi tha ma khoảng hơn 1km tới đích là xóm 8, ở đó có nhà ông bà ngoại. Đường trong xóm là dải đất hẹp, giữa hơi trũng như lòng máng. Đi ngược một quãng về phía đê thì gặp đình làng. Đình Yên Mỹ nhỏ hơn đình Mọc Xá nhiều, không đẹp bằng, lại nằm xa xóm, xa làng lẻ loi trên một doi đất hẹp, nhô lên như sắp sửa ngoạm một miếng vào bãi tha ma, đồng không mông quạnh. Điều duy nhất làm tôi thích thú là hàng đàn chim kéo về làm tổ dưới mái đình, bác Cả Cạc trèo lên bắt vài con bỏ vào lồng đem về cho tôi chơi.

Phong cảnh làng tôi nói chung tẻ nhạt, cũng như cuộc sống nghèo khó, ngày nào cũng như ngày nào, cứ lặng lẽ vật vờ trôi, vô định, vô thức. Hình như ít ai hoặc không ai có lúc nào đó bỗng tự hỏi, làng mình và bản thân mình đang trôi dạt về đâu?

Nơi đẹp đến bất ngờ, đầy sức cuốn hút là chùa Yên Mỹ. Chùa nằm cạnh đình. Từ nhà ông bà ngoại xóm 8 đi theo hướng đê, đến ngã tư, đi thẳng thì đến đình, rẽ 21phải là đến chùa. Một không gian thật yên tĩnh, gần như không có tiếng động ngoài tiếng chuông chùa thỉnh thoáng ngân vang và những tiếng hót ríu rít của đàn chim hiếu động luôn bay lượn, nhảy nhót trên các chòm hai dãy cây dàn hàng dọc hai bên khu đất trồng trước cổng chùa, rộng và dài như một "quảng trường" khảm vào không gian chật hẹp, ngột ngạt của xóm, của làng. Tôi thường vãng cảnh chùa vào những ngày hè oi bức. Đúng ra là ngắm cảnh chùa ở bên ngoài chứ chưa từng bước vào trong, mặc dù cánh cửa chùa lúc nào cũng mở rộng như mời gọi đón khách thập phương.

Tôi thường hay la cà ở đây, thưởng thức cái đẹp của cảnh, hưởng thụ không khí tĩnh lặng và mát lạnh tỏả ra từ những vòm cây cành lá xum xuê chạm vào nhau, đan xen vào nhau, gần như che khuất cả mặt trời và phủ kín cả khu đất trống. Từ ngoài đường chỉ đặt vài bước chân vào khu đất này là cảm nhận được ngay tức khắc sự khác biệt giữa hai nơi khác nhau hoàn toàn về môi trường và thời tiết. Một bên là mùa hè, một bên là mùa đông, như sự khác biệt giữa một vùng nhiệt đới châu Phi với vùng ôn đới châu Âu.

Tôi đi quanh quẩn giữa hai hàng cây, mỏi chân thì ngồi bệt xuống đất, tựa lưng vào gốc cây, nghỉ và thả hồn vào mung lung mơ mộng, chuyện nhớ, chuyện quên... Một lần như thế, tôi ngủ quên lúc nào không biết, mường tượng như đang ở trong một khu rừng lạ, một câu chuyện gì đó đang diễn ra phập phù những cảnh không đầu 22không cuối trong một cuộn phim đứt quãng... Bỗng tôi choàng dậy, một bàn tay lay mạnh bên vai. Thì ra người nhà chợt phát hiện tôi biến mất lúc nào, đi đâu không biết, lo sợ hoảng hốt đi tìm. Dĩ nhiên, mẹ tôi nhạy cảm và lo sợ hơn ai hết, mặt tái mét, phải một lúc mới lấy lại màu hồng. Tôi ôm chặt lấy mẹ. Hai mẹ con đều lặng đi, không nói được lời nào, chỉ nghe nhịp đập dồn của trái tim.

Ông bà ngoại, nhà ở xóm 8, sinh một con trai cả, hai con gái, mẹ tôi là chị, tên là Trần Thị Điển, em gái là Trần Thị Đàn, còn gọi là dì Đuốc theo tên chồng. Bác cả ở với ông bà ngoại, ông có tên kỳ cục là Cạc, như tiếng kêu của vịt, cạc cạc... Hình như một số gia đình mê tín theo tục lệ dùng những chữ xấu xí đặt tên cho con để ma quỷ không chú ý, rình mò hãm hại, bắt đi. Bà em ruột của bà ngoại tôi, sinh ba con trai, đặt tên lần lượt là Đá, Đất, Bùn. Chú Bùn vào quân đội, đổi tên là Hiến, chiến đấu dũng cảm cho đến khi kết thúc chiến tranh chống Pháp (Gia đình hiện định cư ở thị xã Phú Thọ).

Tôi chưa gặp ông ngoại vì ông mất sớm, nhưng nhiều lần được thăm bà ngoại. Nhà ông bà ngoại có nền tôn cao, mùa lũ nước chỉ dâng đến gần mép cổng, nền nhà còn cao hơn nữa. Tuy vậy có năm lũ lớn vẫn ngập cả sân và nhà, có khi ngập tới mái. Nhà gianh, vách đất, nên đất nện được gia cố thường xuyên bằng phương pháp độc đáo, 23ngẫu hứng là chặt hạt trám đen làm đôi cắm xuống đất. Nhà mở ra hướng Tây, nhìn ra đê, có ba gian, hai chái. Kỷ niệm duy nhất của tôi về bà ngoại là khi bà ốm, nằm trong một bên chái, trên chiếc giường tre. Nền nhà cao, giống như một ngọn đồi, taluy thoai thoải dốc, ở lưng chừng dốc mọc một cây ổi to sai quả. Bà mở lọ lấy ra vài cục đường phèn và bảo người nhà ngắt cho tôi một quả ổi. Mùa nước nổi, lũ sông Hồng tràn ngập tới chân đê suốt mấy tháng ròng. Làng biến thành một biển nước mênh mông ngầu đục phù sa, mỗi nhà thành một hòn đảo nhỏ cô lập. Mọi hoạt động sản xuất ngừng trệ. Giao thông trong xã chỉ có cách dùng thuyền dù chỉ đi từ nhà này sang nhà khác trong xóm nhỏ, cho nên nhà nào cũng phải có một thuyền gỗ nhỏ. Nhà nào không may có người ốm hay có tang thì vô cùng phức tạp. Đó là trường hợp dì Đuốc, em mẹ tôi.

Khoảng mùa hè năm 1978-1979, dì ốm nặng, nền nhà thấp, nước ngập nhà, phải bắc một tấm ván trên xà sát mái nhà để dì nằm. Mấy tháng sau dì mất, không có đất chôn, phải điều đình mượn đất của xã Đồng Trì trong đê. Gia đình lo mọi việc cho đến khâm liệm, nhập quan. Tiếp đó là thuê một sà lan lớn cho quan tài và vài chục người đưa tiễn đến chân đê, đưa qua đê - hồi đó thấp hơn bây giờ nhiều - đến nơi hạ huyệt và chôn cất. Hơn 24ba năm sau, đợi thời tiết khô ráo mới cải táng và đưa di cốt dì về an nghỉ tại nơi cắt rốn chôn nhau bên cạnh mộ chồng và họ hàng.

Khi thím ba (là con dâu thứ ba của dì Đuốc) ở quê ra thăm mẹ tôi, báo tin dì tôi mất, mẹ tôi không nói gì, chỉ nằm khóc thầm, nước mắt đầm đìa trên mặt. Mẹ tôi khóc mãi, khóc đến cạn nước mắt. Mẹ tôi với dì là hai chị em gắn bó thân thương hiếm có trên đời, dì tôi mất là nỗi đau tột cùng của mẹ. Tôi thương mẹ quá mà không biết làm gì, nói gì để an ủi mẹ. Chỉ Tụy Phương mới có thể làm mẹ nguôi ngoai, vợi bớt nỗi đau, nhưng Tụy Phương đang nằm bệnh viện. Cảm giác mẹ tôi đau buồn cùng cực trong sự cô đơn, cùng với cảm giác sự bất lực của tôi không làm được gì cho mẹ, càng làm tôi đau nhói nỗi đau của mẹ. Những ngày sau đó, mỗi khi vào phòng thăm mẹ, có lần tôi bắt gặp mẹ nằm lặng lẽ khóc em, nước mắt sụt sùi.

Sau ngày cải táng dì Đuốc vài tháng, vào mùa thu năm 1983 mẹ tôi ra đi, thọ 90 tuổi. Sau giỗ đoạn tang, chúng tôi đưa mẹ tôi từ nghĩa trang Văn Điển về nằm bên cạnh dì, với tâm nguyện để mẹ tôi và dì được mãi mãi bên nhau. Tôi cảm thấy yên tâm, chắc mẹ đã được toại nguyện.

Nhưng có thật đúng vậy không? Đôi lúc nghĩ lại, tôi không khỏi băn khoăn. Những năm cuối đời, dường như mẹ tôi đã chuẩn bị tâm trí cho sự ra đi. Mẹ có lần dặn tôi: "Con nhớ lấy đuôi gà để trong tủ để vấn tóc cho mẹ (đó 25là chiếc tủ gỗ nhỏ sơn trắng đựng áo quần, đồ dùng của mẹ). Hai là, đừng để mẹ phải ngâm nước". Nói thực lòng, tôi không hiểu rõ ý mẹ mà không dám hỏi lại. Có phải mẹ không muốn chôn ở quê, năm nào cũng vài tháng ngập trong nước lũ. Có lẽ thế chăng? Tôi đã tính đến chuyện, hay đưa mẹ về quê nội Mọc Xá, nay là xã Cao Dương? Họ hàng quê nội tỏ ra rất nhiệt tình, đã đánh tiếng rất mong và rất sẵn sàng đón mẹ tôi về làng và sẽ tổ chức lễ tang chu đáo nhất.

Có điều khiến tôi rất phân vân: Quê nội xa, đi lại khó khăn hơn. Họ hàng thân thiết không còn nhiều, phần lớn các cụ đã "về" từ lâu lắm, đám trẻ chẳng biết ai với ai. Mẹ về đấy e sẽ cô đơn, ai là người chăm nom thăm viếng mẹ thường xuyên, ai sẽ chăm sóc mộ chu đáo? Con cháu muốn về viếng cũng khó hơn, sẽ thưa vắng hơn. Còn ở Yên Mỹ, về viếng mẹ cả đi lẫn về chưa hết buổi đi xe máy. Mẹ nằm ở quê cha đất tổ, giữa anh chị em ruột thịt, họ hàng xa gần thân thuộc, ấm cúng. Tôi bàn với các con, đều thống nhất nên đưa mẹ tôi về Yên Mỹ. Tuy thế, đôi khi tôi lại tự vấn rồi tự thuyết phục mình là đã làm đúng mong muốn của mẹ, hoặc là mẹ cuối cùng cũng chấp thuận ý kiến các con cháu, để khỏi bị ân hận giày vò.

Còn về cái đuôi gà, khi sửa sang cho mẹ, tôi nói với bà Th, người rất nhiệt tình giúp đỡ sau khi mẹ lâm chung, lời dặn của mẹ, bà tìm không thấy. Tôi cẩn thận tìm lại lần nữa cũng không thấy. Vậy là tôi cũng không thực hiện được đúng nguyện vọng của mẹ. Lâu về sau, 26khi dọn dẹp lại đồ đạc, tình cờ tôi tìm thấy cái đuôi gà! Không trang điểm theo phụ nữ truyền thống, mà theo phụ nữ thời hiện đại, mẹ vẫn rất đẹp, đoan trang, nhân hậu. Thầy Đặng Thai Mai, khi nhìn bức ảnh của mẹ tôi nói: "Thời trẻ, chắc bà đẹp lắm". (Đó là ảnh bóc từ Chứng minh thư nhân dân và phóng to).

Hiện tượng một số người ra thành phố kiếm được việc làm, phần nhiều là tạm bợ, bấp bênh - không thể thay đổi hình ảnh một vùng nông thôn nghèo. Thật ra, phải đến sau Cách mạng Tháng Tám, nhất là sau ngày chiến thắng giặc Pháp trở về, tôi mới nhận thức được cảnh nghèo đói đến xơ xác của quê tôi. Từ lúc nhỏ đến lúc trưởng thành, nhiều lần về quê, tôi cũng chỉ ít nhiều thấm thía vài khía cạnh gần gũi của đời sống thường ngày của họ hàng.

Hồi tôi còn nhỏ, một ngày giáp Tết, mẹ tôi và tôi ngủ lại đêm tại nhà bác cả. Bác trai đi thăm bà hai ở bên kia sông, chỉ có bác gái ở nhà. Ở làng tôi, sợ nhất vào dịp Tết là cướp. Bác tôi đóng cửa cài then cẩn thận, rồi thức đêm, từng lúc, từng canh, tay cầm ngọn giáo đi quanh nhà kiểm tra, nói rõ to, thách thức: "Đứa nào rình mò, định ăn cắp, ăn cướp thì liệu hồn, tao có giáo dài sắc ngọt đây, sẵn sàng tống tiễn mày xuống âm ty, đừng hòng về với vợ con mày". Tôi nghe mà bàng hoàng, lo ngay ngáy, 27nhắm mắt mà không tài nào ngủ được. Nhưng rồi tôi cũng thiếp đi lúc nào không biết. Ngủ không màn, không chăn, hai mẹ con đắp một chiếc chiếu. Vậy mà tôi ngủ rất say!

Một điều lạ nữa khác thành phố là trừ người già, còn trẻ em, các cô thiếu nữ, kể cả thanh nữ đều đi chân đất kể cả mùa rét. Một lần, cũng vào một ngày giáp Tết, tôi đi trên đê, gặp một cô thanh nữ có họ với mẹ mặc bộ áo quần mới ngày Tết (gọi là mới thực ra chỉ là áo quần thường ngày, đã giặt giũ sạch sẽ) và đáng kể nhất là chân đi đôi guốc mộc. Thì ra, cô có guốc nhưng để dành cả năm cho my Ngà Tếnt!

Bố tôi sống có tình nghĩa với quê nội lẫn quê ngoại. Một lần bác Cạc ốm nặng, bố về tận quê thuê người cáng lên Hà Nội, đưa vào bệnh viện Phủ Doãn (nay là bệnh viện Việt - Đức), có một khu chữa bệnh cho người bản xứ (ta gọi là "bệnh viện làm phúc"), cửa mở ra phố Phủ Doãn (thời Pháp thuộc là phố Julien Blanc). Bác phải phẫu thuật vùng bụng. Bố thuê người cơm nước, chăm sóc chu đáo. Ai nghe phải "mổ bụng" cũng kinh hãi, nhất là họ hàng ở quê. Cuối cùng bác khỏi bệnh, mọi người cho là nhờ được tổ tiên và Thần, Phật phù hộ độ trì nên tai qua nạn khỏi. Bác như từ cõi chết trở về. Trước khi bác ra viện, bác sĩ dặn đi dặn lại là tuyệt đối không được mang vác vật nặng.

Sức khỏe bác phục hồi dần. Chưa được một tháng thì bác gặp sự cố. Một hôm trời nắng, một nong lớn được 28đặt trong sân để phơi ngô. Mây đen xuất hiện, ùn ùn kéo đến. Bác vội vã chạy ngô, vận toàn bộ sức lực nâng chiếc nong nặng lên. Nghe một tiếng "bục", ông choáng váng, ngã lăn trên mặt đất, vẫn tỉnh táo nhưng không động cựa được. Vết mổ đã bị bục. Đáng lẽ đưa ngay trở lại bệnh viện thì gia đình lại nghe người ta mách một bài thuốc dân gian, dùng lá lẩu gì đó giã nhỏ đắp vết thương.

Khoảng chục ngày sau gia đình mới báo tin. Bố tôi tức tốc đưa tôi cùng về quê thăm bác. Bác nằm trên võng, bụng đắp chăn mỏng, không tỏ vẻ gì đau đớn. Bác gái bảo: "Tưởng dịt lá là khỏi, không ngờ vết thương ngày càng rộng, đầy dòi". Nghe sợ chết khiếp. Bố tôi cũng không xem vết thương, chỉ dặn: "Cáng ngay bác cả ra bệnh viện, tôi về chuẩn bị đón". Bác sĩ xem vết thương, vẻ tức giận, nói như mắng: "Đã dặn cẩn thận, không nghe, lúc tái phát lại dùng thuốc bậy bạ, bây giờ mới đưa ra. Chậm rồi, đưa ông ấy về"

Số phận bác tôi kết thúc thảm thương như thế đó. Chỉ vì không hiểu biết, còn xã thì quá nghèo không có dù chỉ một trạm xá hay chí ít là một y tá.

29Chương 2

THỜI THƠ ẤU

EM GÁI BÉ BỎNG QUA ĐỜI

Mỗi khi tìm về nơi cùng thẳm của ký ức tuổi thơ, bao giờ tôi cũng gặp một điểm dừng, khắc sâu một kỷ niệm đau buồn, và khoả lấp tất cả những gì xảy ra trước đó. Dường như tuổi thơ của tôi chỉ thật sự bắt đầu từ đấy.

Đó là buổi sáng ảm đạm một ngày hè oi ả, u ám, em gái độc nhất của tôi rời bỏ cõi đời. Em ra đi lặng lẽ, âm thầm như lịm vào giấc ngủ triền miên vĩnh viễn, không để lại chút dấu ấn nào trên cõi đời này. Không một tiếng khóc, một cái huơ tay, đạp chân, không một ánh mắt, một nụ cười, một tiếng bi bô, đến cái tên cũng không. Thậm chí không một bức ảnh nào ghi lại gương mặt và hình hài của em, nhưng hình ảnh của em, dù chỉ thấp thoáng mờ nhạt, mãi mãi khắc sâu trong trái tim tôi, trong tình yêu và nỗi đau vô bờ, cùng với sự ân hận không nguôi. Phải chăng sự rung động của tôi khi em cất tiếng khóc chào đời chưa thật sâu sắc, nên tôi đã không hết lòng âu yếm, chăm bằm em như một người anh phải làm? Tại sao tôi 30không đến bên em, nhìn em và hôn em một lần cuối trước khi em ra đi? Tôi thấy mình có lỗi với em gái bé bỏng của mình.

Trong Hồi ký Lê Tụy Phương Nghĩa tình năm tháng cuộc đời (tr.65-66), tôi đã kể về buổi sáng đó như sau: ... Tôi có một đứa em, nhưng không may mất sớm, khi chào đời mới được vài tháng, mà cũng có thể ít hơn. Khi ấy tôi ba, bốn tuổi, chưa kịp biết gì về em. Không nghe tiếng khóc oe oe, không được nhìn mặt, không biết trai hay gái, hình như bố mẹ cũng chưa kịp đặt tên. Thật lạ. Tôi không nhớ gì cụ thể về em. Tôi chỉ nhớ quang cảnh lúc em ra đi. Phòng trống rỗng chỉ có một chõng tre, vắng tanh, lặng ngắt, mẹ tôi khóc nức nở bên cái nôi phủ màn tuyn trắng toát. Tôi oà khóc, không dám đến gần mẹ, linh cảm có chuyện gì chẳng lành.

Rồi người ta đem một chiếc kiệu đến, đặt một hòm nhỏ vào trong, rồi khiêng đi, chỉ có mẹ tôi đi theo. Mẹ khóc thảm thiết. Tôi biết là em nằm trong hòm, em đã bỏ chúng tôi mà đi rồi.

Tôi không bao giờ dám hỏi mẹ về đứa em xấu số, nhưng đau buồn không bao giờ nguôi. Mỗi khi nhớ đến em, trái tim tôi như thắt lại. Tội nghiệp em bé bỏng, chưa kịp thấy ánh nắng mặt trời đã vội bỏ đi, lướt qua cuộc đời như một làn gió thoảng, một mảnh sao băng vụt loé rồi vụt tắt. Em như một cái bóng hư ảo, mà lại rất thực, hiện ra mỗi khi tôi thầm gọi em từ ký ức trở về. Em, hay cái bóng của em, mãi mãi trong trái tim tôi. Em là thiên thần bé nhỏ của tôi".

31Tôi thỉnh thoảng nhớ về em, với nỗi buồn thương da diết. Và khi viết những dòng này, tôi đã khóc, khóc rất nhiều. Nhưng đó là về sau. Còn lúc này thì buồn thương cũng dần nguôi, tuổi nhỏ chóng quên. Tôi lại tung tăng chơi nhởi với bạn bè cùng phố.

ÔNG NỘI QUA ĐỜI

Em tôi mất gần một năm thì mùa hè năm sau (1927) đến lượt ông nội tôi qua đời.

Nhà ông nội ở gần ngã năm Bà Triệu, chỉ cách nhà tôi khoảng 100 mét. Mẹ cấm tôi không được tự mình đến nhà ông nội, đề phòng xảy tai nạn khi tôi qua đường. Những lần hiếm hoi được thăm ông đều do mẹ tôi đưa đến. Ngược lại, mẹ thường xuyên đến thăm ông. Ông tôi ốm nặng, nằm liệt giường nhiều tháng ròng (sau này mẹ tôi bảo là ông bị hậu bối ở lưng).

Lần đầu tiên đến thăm ông để lại trong tôi một ấn tượng mạnh. Bước qua ngưỡng cửa, tôi dừng lại. Cách chỗ tôi đứng vài thước là một thân hình to lớn bất động, chiếm gần hết chiều dài của chiếc giường lớn đặt sát tường. Ông nhắm mắt như ngủ. Tôi cảm thấy sợ. Mẹ tôi ghé miệng sát tai tôi, thì thầm: Con lại gần ông và chào ông đi. Và mẹ nhẹ nhàng đặt tay vào sau lưng đẩy tôi về phía ông. Tôi ngập ngừng bước đến gần đầu giường. Mẹ tôi nói: "Thưa ông, cháu nội đến thăm ông". Ông chậm chạp mở mắt, nghiêng đầu về phía chúng tôi. Phần trên cơ thể động đậy. Ông giơ cánh tay phải, nắm và giữ bàn 32tay tôi trong tay ông một lúc lâu, rồi nhẹ nhàng nói một thôi: "A, cháu nội ông đây hả. Đúng là cháu nội ông, phải không? Thời gian gần đây, cháu đi đâu thế? Tốt lắm, cháu ông...". Ông nhìn tôi đăm đăm, chăm chú quan sát tôi. Ánh mắt ông hiền dịu, ông có vẻ ngạc nhiên, cảm động, hài lòng, sung sướng... Chúng tôi không nói gì thêm nữa, riêng ông nhắc đi nhắc lại nhiều lần những câu đã nói. Những lần sau tôi đến thăm ông cũng na ná như lần đầu. Dần dà tôi có cảm giác phần dưới cơ thể ông hầu như tê liệt, chỉ có phần trên động đậy. Ông giơ và hạ hai cánh tay, nghiêng đầu sang phải sang trái, nhưng không nghiêng người được, luôn nằm duỗi thẳng. Chính điều đó làm tôi nghi ngại, hơi rờn rợn, ít nhất thì cũng trong những phút đầu tiên. Ông lúc nào cũng nghiêm nghị, không cười, nhiều lắm thì cũng chỉ phảng phất một thoáng nụ cười xa xăm không thực, nhưng mắt ông nhìn tôi không chớp thì rất hiền, dường như dấu hiệu một sự hài lòng mỗi lúc một tăng, và có lẽ cả sự vui mừng. Giữa ông nội và tôi, chúng tôi đã gắn bó bởi một tình cảm ruột rà.

Mẹ tôi kể là ông rất trìu mến tôi, thích tôi được đặt ngồi trên bụng ông, hai chân soài ra hai bên, chơi trò phi ngựa, "nhong nhong ngựa ông đã về'. Tôi phải xấu hổ thừa nhận rằng tôi không nhớ tí gì về chuyện ấy cả. Nhưng còn tệ hơn thế. Ngoài những ấn tượng trong lần thăm viếng đầu tiên, được củng cố trong những lần thăm viếng tiếp theo, ký ức của tôi chỉ giữ được những mẩu vụn hình ảnh phân tán, tản mạn, không đầu không cuối, nhạt nhòà.

33Một hôm, bố mẹ tôi (từ nhiều tháng nay bố tôi đã trở về Hà Nội, ở đây ông đã tìm được việc làm) ra khỏi nhà từ lúc sáng tinh mơ và đến nhà ông nội. Sau đó, mẹ tôi một mình về đón tôi. Khác với thường lệ, mẹ mặc một áo dài rộng thùng thình bằng vải màn trắng, đầu choàng một chiếc khăn trắng. Dọc đường mẹ tôi bảo: "Ông nội đã mất cách đây hai hôm; hôm nay làm lễ, tiễn ông đến mộ để chôn cất". Tôi bất giác tưởng nhớ cái chết của đứa em gái bé bỏng. Tôi dùng tay quệt nước mắt giàn giụa.

Căn phòng chứa đầy tiếng ồn ào, rất nhiều người cả nữ và nam túc trực. Chiếc giường đã được cất đi. Giữa phòng đặt một bàn thờ lớn, khói hương nghi ngút và một quan tài mở nắp, ông tôi nằm trong đó. Rất đông phụ nữ xúm quanh quan tài, ngồi trên những chiếc chiếu trải trên nền nhà, vừa khóc vừa nói, vừa kể lể vừa khóc, câu chữ lẫn lộn, không thể hiểu các bà các cô nói gì. Để ánh mắt lướt qua khuôn mặt ông, tôi sợ không dám nhìn kỹ. Mẹ tôi khóc. Bố tôi mắt đỏ hoe. Lần đầu tiên tôi thấy hai ông chú. Bố và các chú tôi mặc áo tang như mẹ tôi, chít trên đầu một vòng khăn tang bện bằng rơm và chống gậy. Những gì tôi thấy và nghe quả thật rất lạ lẫm.

Sau một lúc lâu, có sự chuyển động. Tiếng khóc đã ngừng. Quan tài đã đóng nắp, được chuyển ra đưa vào một chiếc xe sơn đen có mui. Đám tang khởi hành. Bố tôi, các chú chống gậy đi sau chiếc xe tang hai ngựa kéo. Theo sau là mẹ tôi nắm chặt tay tôi không lúc nào rời và đông đảo người đi bộ đưa tiễn.

34Cuối cùng đám tang dừng gần một bãi đất hoang ven đường cái, trước nhà thương Cống Vọng (sau này là Bệnh viện Bạch Mai). Trên bãi hoang đó, một cái hố đã được đào sẵn. Người ta đặt quan tài xuống hố rồi đắp đất lên. Ông nội tôi yên nghỉ tại đó mãi mãi!

Ông nội để lại một bức ảnh chân dung lớn, đặt trong khung gỗ lắp kính. Tôi đã giữ gìn cẩn trọng bức ảnh trong suốt nửa thế kỷ, cuối cùng lại để mất.

Khi đã lớn và trưởng thành, tôi đã nhiều lần ngắm chân dung ông tôi, và suy ngẫm, cố phát hiện một vài nét nào đó giúp phác họa dù sơ lược chân dung tinh thần của ông tôi.

Trong bức ảnh, tôi đoán ông 50 tuổi, vậy là ông mất vào khoảng 60 tuổi.

Ông có vẻ là người có phẩm cách, nghiêm trang, suy tư, mắt không đeo kính. Gương mặt đầy đặn, nhưng đã in những nét nhầu nhĩ, có lẽ là vết tích của những năm tháng phong sương, chiếc cằm của những người có ý chí mạnh mẽ, kiên quyết. Chân dung ông biểu thị sự liên kết ít nhiều mâu thuẫn giữa một bên là ý chí, sự quyết đoán, sự tự tin, một bên là sự hiền hoa, lòng nhân ái, sự nhẫn nhục cam chịu và phảng phất một nỗi buồn.

Rời làng ra thành phố định cư và lập nghiệp, tất ông tôi phải là người có học vấn, một nghề và một mức sống tạm chấp nhận được. Nhờ thế mà ông có thể đưa bố tôi ra thành phố và cho bố tôi vào học trường Việt - Pháp, 356 năm tiểu học và 4 năm cao đẳng tiểu học cho đến khi đỗ bằng đíp-lôm (diplôme) và có công ăn việc làm. Nhờ thế mà bố tôi thu nhận được kiến thức phổ thông vững vàng, nắm vững ngôn ngữ Pháp.

Chân dung bố tôi có nhiều nét tương đồng với ông nội, đặc biệt là đôi mắt có cái nhìn hiền lành, lịch sự, nhã nhặn. Bố tôi không cao lớn, mập mạp bằng ông nội. Nhờ có học vấn nên sau nhiều thăng trầm, bố tôi cuối cùng được nhận vào làm việc ở nhà in lớn nhất Đông Dương là Nhà in Viễn Đông ở Hà Nội, làm thư ký đánh máy, rồi được đề bạt làm trưởng phòng đánh máy.

Khoảng năm 1941, bố đưa tôi xem một bản đánh máy tiếng Pháp ông vừa hoàn thành. Chủ nhà in đích thân đọc cho ông đánh máy. Đó là một bản hoàn hảo, không một lỗi chính tả, không một lỗi đánh máy. Nội dung là bức thư ngỏ của Uông Tinh Vệ - kẻ lưu vong, bị kết án là Hán gian chạy trốn khỏi Trung Quốc, sang nương thân ở Việt Nam, sống nhờ vào sự che chở của quân đội Nhật Bản đã kéo vào nước ta từ năm 1940. Uông ra sức tự bào chữa lập trường chính trị của y (Nhà in dù không muốn cũng phải nhận đánh máy và in làm nhiều bản để giao lại cho quân Nhật, không tự mình phân phối; nhà in muốn giữ kín chuyện này, không muốn dính líu đến chính trị).

Cuộc đời ông tôi ra sao? Tôi hầu như không biết gì. Ông có hai bà vợ. Bà vợ cả sinh ra bố tôi, bà vợ hai sinh 36hai con trai đó là ông Tích và ông Kíu, những người em cùng cha khác mẹ của bố, những ông chú ruột của tôi. Tôi chưa bao giờ được biết bà nội, cũng như bà vợ hai của ông tôi. Ông đã thành đạt trong cuộc sống. Tuy nhiên, chắc hẳn ông gặp không ít khó khăn trong những năm cuối đời, vì lý do đó mà người chú thứ hai của tôi gần như không được học, điều mà tôi dễ dàng nhận thấy sau đó ít lâu.

Nghề nghiệp và những đam mê của ông là gì? Không ai cho tôi biết một cách đích xác. Rất có thể, ông đã trải qua những giai đoạn, những thời điểm sôi động, hoặc khủng hoảng, đó mãi mãi là một bí mật. Và chính đó là điều cuốn hút tôi.

Tôi nhớ lại một nét khá đặc biệt trong ký ức của tôi và trong chân dung ông. Đó là cái nhìn đăm đăm hướng vào tôi mỗi khi tôi đến thăm ông, đó cũng là cái nhìn của ông trong bức chân dung, cũng đăm đăm như thế nhưng hướng vào một nơi xa xăm, chứa chất những câu hỏi không có lời giải đáp về tương lai, về thân phận con người. Sau này tôi nghĩ hình như ông không bao giờ nhận được những lời giải đáp rành mạch, chỉ là những lời triết lý siêu hình khiến ông không thỏa mãn, và dường như ông vẫn mong đợi một câu trả lời. Mà cho đến bây giờ ông vẫn kiên trì chờ đợi, nó trở thành nỗi ám ảnh của ông. Nỗi ám ảnh đó đã vô hình trung lây sang tôi, tôi đã chia sẻ với ông. Và cũng chính vì thế mà tôi cảm thấy rất gần gũi ông, tôi cảm thông với ông. Tôi mãi mãi giữ ký ức tốt đẹp về ông nội, một con người bí ẩn.

37Nhiều năm sau khi ông nội tôi rời bỏ cõi trần, tôi biết rằng tập tục truyền thống và tâm lý người dân vẫn mong mỏi đứa con đầu lòng là con trai, đó là sự lo lắng về "duy trì dòng họ đời đời kiếp kiếp nối dõi tông đường". Và tôi hiểu rõ hơn sự phản ứng của ông nội khi trông thấy đứa cháu nội bằng xương bằng thịt bỗng nhiên xuất hiện trước mặt ông. Ông thật sự rất xúc động, tự hào sung sướng, bình tâm và đầy hy vọng về thế hệ nối tiếp. Mong rằng đối với ông nội, đó là một niềm an ủi cho cuộc đi xa và sự bình yên của ông trong thế giới bên kia.

NHỮNG BÀI HỌC ĐẦU TIÊN

Sau tang lễ ít lâu, bố mẹ tôi dọn đến ở nhà ông nội.

Đây là một trong nhiều căn nhà cùng một kiểu, y hệt nhau chạy dài đến ngã tư Bà Triệu - Trần Nhân Tông đối diện Nhà thương Mắt (nay là Bệnh viện Mắt Trung ương) bên kia đường. Nghe nói đây thuộc Nhà Chung xây dựng cho thuê, loại nhà không có gác, mái lợp ngói không có trần, bên trong là một phòng rộng và dài, tiếp đến là sân cũng rộng và dài gần bằng phòng ngoài.

Nay quang cảnh nhà cửa phố xá đã thay đổi hoàn toàn. Hầu hết đã cải tạo thành nhà có gác, cửa hàng san sát, buôn bán sầm uất, dân cư tại chỗ đã tăng lên rất nhiều, người qua lại đông đúc, xe cộ nườm nượp suốt ngày, với mật độ vào loại cao nhất của Hà Nội. Chỉ còn duy nhất một nhà vẫn giữ nguyên một tầng, nhưng bề 38mặt cũng đã được cải tạo đẹp hơn. Đó là cửa hàng cà phê Hói (tên ông chủ) nổi tiếng của Hà thành, nơi tụ hội những người sành thưởng thức cà phê. Cách đây dăm năm, tôi cũng là một khách "trung thành". Đó chính là nhà ông nội tôi đã ở và rồi đến bố mẹ tôi.

Giữa những năm 20 của thế kỷ trước, từ ngã năm đổ lên hồ Hoàn Kiếm, phần đông là nhà Tây ở, phố xá vắng vẻ, nhất là khi thành phố đã lên đèn. Từ ngã năm đến hết đoạn phố này lại càng vắng, mang dáng dấp vùng nông thôn yên bình, tĩnh lặng quê tôi. Hầu như không có cửa hàng, ban ngày cũng ít người đi lại. Thành phố vốn ít bóng ô tô, xe đạp cũng không nhiều, ở đây càng hiếm, thỉnh thoảng mới thấy vài chiếc xe đạp hoặc xe tay (người kéo) chạy trên đường.

Gia đình tôi nay có thêm ông chú, bố tôi đưa về nuôi, dạy. Đây là chú thứ hai, hơn tôi vài tuổi, hiền lành, hơi nhút nhát, ít nói, hay cười. Chú đánh bạn với tôi.

Cuộc sống của tôi thay đổi. Tôi không còn các bạn phố Bùi Thị Xuân nữa, không còn ai cùng chơi đùa trên hè phố Nguyễn Du nữa - về phương diện này thì tôi thuộc loại "trẻ con hè phố". Bây giờ, tôi suốt ngày ru rú trong nhà với một bạn mới là ông chú trẻ. Trước nhà, bên kia đường là một vườn hoang kéo dài đến sau lưng Nhà thương Mắt, cỏ dại mọc ngang đầu gối. Chú rủ tôi sang đó, bắt dế mèn đào tổ trong đất. Chú lò dò vạch cỏ tìm tổ, đổ một ít nước vào, chú dế thò râu lên nghe ngóng một 39lúc, rồi nhảy vọt khỏi tổ. Chúng tôi bắt vài con. Dế mèn rất hiền lành. Chúng tôi lấy bao diêm làm nhà cho chúng ở, thả vào trong vài lá cỏ non cho chúng ăn. Chú tôi bày trò cho chúng đánh nhau. Đánh rất hăng, có con mất càng. Những con "tàn phê" được trả lại vườn hoang. Rồi chơi bắt chuồn chuồn, bắt ve sầu mùa hè.

Có một chuyện hài hước, tưởng như chuyện đùa. Tiếng ve kêu râm ran suốt ngày, làm các ông Tây mất giấc ngủ trưa. Tòa đốc lý Hà Nội ký hợp đồng với một nhà khoa học, ông Nguyễn Công Tiễu, tìm giải pháp diệt ve. Sau vài tháng luôn bị thúc giục, ông đưa ra giải pháp khoa học tối ưu: thuê trẻ em trèo lên cây bắt! Câu chuyện trở thành một đề tài giễu cợt dài dài trên báo Ngày Nay. Có lẽ cũng từ đó và nhờ chuyện ấy mà tiếng tăm nhà khoa học Nguyễn Công Tiễu nổi lên như cồn!

Tôi lên năm tuổi, bố bắt đầu dạy tôi và chú tôi học chữ Quốc ngữ. Ông dành cho việc này vài buổi tối và thỉnh thoảng một buổi ngày chủ nhật. Sau khi ê a vài tháng đánh vần thành thạo rồi thuộc lòng bảng cửu chương, bố cho chúng tôi học sách Tập đọc và làm bài tập. Tôi say mê học. Mê nhất là thơ, nhất là thơ Bà Huyện Thanh Quan: "Bước tới đèo Ngang bóng xế tà /Cỏ cây chen đá lá chen hoa / Lom khom dưới núi tiều vài chú /Lác đác bên sông chợ mấy nhà...".

Tôi thích ngâm nga, có lúc cao hứng đi lại trong nhà, cao giọng ngâm to. Chú tôi há hốc mồm nhìn tôi, mẹ tôi từ sân chạy lên nhà "Tưởng gì" mẹ tôi cười, mắng yêu 40"hát hỏng gì mà như lệnh vỡ; tưởng hai chú cháu cãi nhau". Mẹ tôi vẻ rất vui. Đúng! Tôi không chỉ ngâm, tôi "hát" bài thơ!

Những đứa trẻ như tôi thuở ấy đều thuộc lòng các bài thơ cổ điển, và chắc các cụ ông, cụ bà cùng lứa tuổi tôi, nay đã bát tuần, cửu tuần vẫn còn nhớ những bài thơ đã nuôi dưỡng tâm hồn tuổi thơ của mình. Đó là một kỷ niệm thật đẹp trong những năm đầu đời.

Tôi tiếp thu những bài bố dạy không khó khăn lắm, rất thích thú và tự tin, cảm thấy mình lớn lên từng ngày. Bố rất nghiêm khắc, bao giờ cũng kiểm tra bài cũ. Nếu chưa thuộc bài cũ, trả lời những câu hỏi không gãy gọn, thì ông bắt ôn lại bài cũ đã, chưa dạy bài mới vội. Bố thường tỏ vẻ hài lòng với kết quả học tập của tôi, nhưng ông kiệm lời khen, chỉ giơ tay xoa xoa đầu tôi. Chú tôi có vẻ gặp nhiều khó khăn, tuồng như không sáng dạ lắm, ê a suốt ngày mà vẫn không thuộc bài, khi bố hỏi thì ấp a ấp úng. Bố không mắng, nhưng tỏ rõ sự không hài lòng, và không vui vẻ khi phải miễn cưỡng giảng lại bài cũ. Cứ đến buổi tối là chú tôi sợ đến co rúm cả người. Đã mất bình tĩnh thì làm sao có thể giữ đầu óc sáng suốt, cho nên trước mặt bố tôi chú đã lúng túng càng thêm lúng túng. Tôi thương chú, muốn giúp đỡ chú mà không biết giúp bằng cách nào. Thế mà chú lại khiến tôi phải ngạc nhiên. Một hôm tôi ngâm thơ, bất ngờ chú cũng ngâm. Tôi hát, chú cũng hát. Thì ra chú ngấm ngầm học thuộc lòng, 41học ngâm, học hát thơ từ lúc nào tôi không biết. Vì chú thích thú nghe tôi ngâm thơ, và từ đó đâm ra thích thơ. Điều tôi không chủ tâm làm vì chú thì lại có tác dụng tốt với chú! Cũng từ đó, việc tập đọc và làm bài của chú tốt hơn, bố tôi bớt khổ sở vì chú, có lần còn xoa đầu chú, còn chú thì ngày càng phấn chấn hơn.

Được khoảng một năm thì chú tôi trở về nhà. Nhà chú ở đâu tôi không biết, về nhà thì chú ở với ai tôi cũng không hay. Thậm chí chú rời khỏi nhà bố mẹ tôi lúc nào tôi cũng không biết. Không có buổi chia tay, tiễn đưa! Cứ như chú bỗng nhiên biến mất tăm! Tôi buồn quá! Thế là từ nay không còn ai cùng tôi đi bắt dế, bắt chuồn chuồn, ve sầu, không còn ai vui đùa trong nhà, hoặc thỉnh thoảng, khi mẹ cho phép, dắt tay nhau đi dạo trên hè đến cuối phố. Có khi chú cháu còn vòng qua trước mặt Nhà thương Mắt đến phố Bùi Thị Xuân, qua cửa nhà cũ bố mẹ đã từng ở, đã tiễn đưa em gái tôi ra đi vĩnh viễn mới cách đây chưa đầy hai năm... Rồi chúng tôi về nhà qua một đoạn hè phố Nguyễn Du, nơi tôi đã cùng tụi bạn thả sức nô đùa, chạy nhảy, reo cười...

Nhiều tháng liền tôi luôn nhớ chú, nghĩ về chú, ngẫm ra nhiều điều lạ lẫm, bây giờ mới thấm thía.

Chú có tên rất lạ, Kíu. Đúng là Kíu, chứ không phải Cứu. Cứu thì còn có nghĩa, chứ Kíu thì vô nghĩa. Sao ông nội tôi lại đặt tên như thế?

42Chú có tài lẻ rất độc đáo, quái lạ: chú biết "vẫy tai". Điều đó chỉ họa hoằn lắm mới bất chợt xảy ra, và dường như ngoài chủ tâm của chú. Có lần tôi nói đùa: "Chú vẫy tai cho cháu xem tí nào". Chú nhẹ nhàng bảo: "Bậy nào". Thế thôi. Nhưng tôi đoán chú phật lòng nên không bao giờ giểu cợt chú nữa. Có thể đó là một nỗi khổ tâm của chú. Chú rất hiền và rất lành. Không bao giờ nói to, rủ rỉ rù rì, cả khi cười vui cũng ít khi cười to, chỉ nhoẻn miệng hoặc cười mỉm. Những khi bố tôi tỏ vẻ không bằng lòng, sốt ruột về chú, thì ngày hôm sau chú buồn rười rượi, ít nói cười, nhưng cũng không tỏ vẻ gì thất vọng, chán chường. Bố tôi cũng có lúc có những cử chỉ săn sóc đến chú, thường là chủ nhật, vào ban ngày, không phải đang giờ học, đó là những lúc bố tôi thanh thản. Vậy chú vui hay không vui khi sống cùng chúng tôi? Cũng nhiều lúc chú vui lắm chứ! Mẹ tôi không bao giờ ghẻ lạnh, không bao giờ nặng lời với chú. Bố tôi cũng không bao giờ mắng mỏ chú, mặc dù không ít lần tỏ ra sốt ruột vì sự chậm hiểu của chú. Chú có tôi làm bầu bạn. Tôi rất thương chú. Vậy mà chú sống lặng lẽ, âm thầm! Không phải chú cố ra vẻ thế. Đây dường như là bản tính của chú! Tại sao?

Sau khi chú rời nhà, tôi bặt tin về chú suốt một thời gian dài, cho đến khi tôi học tú tài, tức là 13 năm sau (1927-1940) hai chú cháu mới gặp lại nhau.

43Chú cởi mở hơn, nhưng vẫn hiền lành như trước. Từ năm 1940, tình hình trong nước bắt đầu nhộn nhạo, tôi thỉnh thoảng tới thăm chú, ngoài tình máu mủ, còn để tìm hiểu nhận thức của chú về thời cuộc. Hồi này, chú vẫn sống độc thân trong một gian phòng nhỏ ở phố Cầu Gỗ, chỉ đủ đặt một giường cá nhân, nên chú lôi ra hai ghế đẩu, tiếp tôi trên vỉa hè, ngồi lâu thì vào quán ngay cạnh nhà, uống nước trà.

Rồi đến Cách mạng Tháng Tám và một năm khẩn trương chuẩn bị bước vào kháng chiến chống Pháp. Lại bằng đi hơn chục năm chiến tranh. Khi gặp lại thì chú đã có vợ và một con trai bảy, tám tuổi. Tôi mừng cho chú. Chú đã đổi tên là Tâm.

Tôi được phân nhà ở 102 Hoàng Hoa Thám, chú thím ở trong làng Ngọc Hà, không biết ở nhờ hay thuê, cũng một phòng bé tí, phải len chân giữa hai cái giường mới vào được bên trong, lỉnh kỉnh đủ thứ nồi niêu bát đĩa, tủ thấp, ghế đẩu... Ở gần nên tôi năng đến thăm. Chú thím tiếp tôi ngồi trên mép giường sát cửa ra vào. Vẫn một cảnh bần hàn.

Chú thím sinh thêm con gái. Con trai nhập ngũ sớm chiến đấu ở chiến trường miền Nam và hi sinh tại đó. Chú thím được chuyển đến ở đầu khu Thành Công, hưởng chính sách đối với gia đình liệt sĩ. Thím và người con gái lớn đã có một nguồn sống là buôn bán ở chợ gần đó. Thím thỉnh thoảng đi lại thăm chúng tôi, thường năm nào cũng đến vào ngày cuối năm, thắp hương cúng 44vái ông nội và bố tôi, và bao giờ vợ tôi cũng biếu quà Tết chu đáo.

Một buổi sáng, tôi được gia đình gọi điện báo chú vừa mất trong đêm. Tôi vội vàng đến. Chú vẫn đang quàn tại nhà đặt nằm trên một tấm phản kê cao. Tôi vào viếng. Chú nằm đó, mắt chưa khép chặt. Gia đình cho biết chú ốm vài tuần nay, đêm qua vào xem thì chú đã đi rồi. Tội nghiệp chú, tôi ôm mặt khóc. Chú sống lặng lẽ, chết lặng lẽ, ngay cả khi đã có hạnh phúc gia đình trong những năm cuối đời.

Gia đình mời tôi vào phía trong ăn cơm với thím và các em. Tôi ngồi làm vì. Chú tôi đang nằm phía ngoài, mắt hé mở, ngăn cách bằng một tấm rèm, làm sao nuốt nổi dù chỉ một miếng.

Tôi tiễn đưa chú tới nơi yên nghỉ cuối cùng ở nghĩa trang Văn Điển. Cầu mong chú tâm hồn thanh thản nơi vĩnh hằng.

Thế rồi bằng đi chục năm nay, tức là từ khoảng năm 1998, năm vợ tôi bị tai biến lần thứ hai, không thấy thím tôi đến. Chuyện gì đã xảy ra? Tôi nóng ruột đang nung nấu ý định đi tìm lại thím và các em. Tiếc rằng hiện nay sức khỏe không được tốt nên chưa làm được gì.

45Sau khi chú tôi rời nhà tôi ít lâu, bố tôi bắt đầu ngừng dạy tiếng Việt và chuyển sang dạy tôi học tiếng Pháp. Tôi vẫn rất buồn vì thiếu vắng chú, nhưng cũng mừng cho chú khỏi bị khổ sở với một ngôn ngữ mới. Thỉnh thoảng bố dắt tôi đi xem phim buổi tối hoặc đi ăn nhà hàng.

Một hôm, bố mang về một cuốn sách, in chữ rất nhỏ, bảo đây là sách cho trẻ con Tây. Đúng là phải vật lộn kịch liệt mới hiểu và nhớ bài, nhưng tôi kiên trì, càng khó càng ham, quyết không phụ tấm lòng của bố. Bố dạy rất công phu. Những tháng đầu, bố dạy rất kỹ, giảng đi giảng lại từng đoạn, khi tôi đã hiểu nội dung và đọc đi đọc lại trơn tru mới chuyển qua đoạn mới. Học kỹ như thế nên có khi hai buổi tối mới xong một bài.

Khi tôi đã có thể tiếp thu bài nhanh hơn, bố tôi thay đổi cách dạy, cách học. Bố dạy kỹ một bài, bài tiếp theo bố chỉ đọc một lần, giảng nội dung, giảng kỹ những từ mới rồi để tôi tự tìm hiểu và tự đọc. Tối đến, bố kiểm tra, giảng thêm những chỗ tôi chưa hiểu.

Bố mua vài quyển vở để tôi tập dịch và chép vào vở, cũng để ôn tập tiếng Việt. Tôi rất thích thú cách học này vì được dịp thử sức. Cả ngày tôi miệt mài, có thừa thì giờ để học và làm bài tập. Tới một ngày, bố tôi bảo: "Con khá lắm, tiến bộ nhiều. Vậy là đủ để vào trường. Có lẽ ít trẻ con được chuẩn bị tốt như con". Lần đầu tiên bố khen tôi. Sự đánh giá của bố giúp tôi thêm tự tin. Và điều quan 46trọng nhất là tôi đã biết tự học, tự đọc sách, ham khám phá. Từ nay, tôi không phải học tối nữa, bố tôi cũng rảnh rang, tất cả cảc buổi tối thuộc về bố.

GIAI ĐOẠN KHÓ KHĂN

Từ khi tôi ra đời cho tới sau khi ông nội tôi mất, gia đình tôi vẫn êm ấm. Khi xảy ra xung đột vào đúng ngày giỗ đầu ông tôi, tôi vừa sợ vừa buồn. Rồi cũng quên đi. Nhưng từ đó tôi biết là những rạn nứt và bất hòà đã âm ỉ từ trước.

Một buổi tối, bố tôi không về nhà. Khoảng tám giờ mẹ dắt tôi đi từ nhà qua ngã năm phố Bà Triệu. Qua đoạn hầu như toàn nhà Tây im ắng như ngủ, tới ngã tư Tràng Thi - Lê Thái Tổ, trước một tòà nhà rất đường bệ, mở ra hai mặt: hồ Hoàn Kiếm và phố Tràng Thi (đó là Sở cẩm Hàng Trống), bước lên bậc tam cấp vào phòng trực ngồi xuống một ghế băng. Một cảnh sát Tây đứng lên rút lui, nhường chỗ cho một cảnh sát người Việt. Mẹ tôi và ông này nói với nhau một lúc, không biết nói những gì tôi cũng chẳng rõ, mà thực ra cũng không chú ý. Một lúc sau mẹ tôi dắt tôi ra về, chẳng biết vui hay buồn, không nối với tôi một câu nào trong suốt chặng đường về. Mẹ tôi không biết một tiếng Tây nào mà dám xông thẳng vào Sở cẩm, kiện cáo gì không biết, nhưng chỉ riêng hành động ấy thôi cũng đủ để tôi cảm phục mẹ tôi thật bạo dạn, 47can đảm, không tỏ ra do dự, sợ sệt. Nhưng tôi cũng rất thương mẹ, chắc có gì đó khiến mẹ phải suy nghĩ, buồn phiền. Nằm bên cạnh mẹ, tôi ngủ một đêm rất say với những cảm tưởng mông lung ấy.

Sáng hôm sau, khoảng 10 giờ, mẹ dắt tôi tới nhà in IDEO phố Tràng Tiền, nơi bố tôi làm việc. Một người Ấn Độ cao lớn như cột đình Yên Mỹ quê ngoại, da ngăm đen, đầu chít khăn, đứng gác ở cửa ra vào một tòà nhà cao ngất ngưởng uy nghi như một tòà lâu đài. Mẹ tôi nói gì đó, rồi đứng đợi. Một lát sau, bố tôi xuống. Người gác cửa giơ hai tay vuốt người bố từ ngực xuống chân xong rồi mới để bố ra khỏi tòà nhà. Tôi không ngờ bố tôi hằng ngày phải chịu đựng sự nhục nhã ấy, ít nhất hai lần mỗi khi rời sở ra về. Cũng vì miếng cơm manh áo cho cả nhà mà bố phải cam chịu. Tôi rất thương bố. Bố mẹ nói chuyện một hồi khá lâu trước khi chia tay. Tôi để ý mẹ về tay không, vẻ mặt trầm ngâm, không vui. Đến lúc này tôi lờ mờ đoán mẹ hỏi bố về tiền lương. Chắc túng bấn lắm mẹ tôi mới phải mất công vất vả như thế này. Tôi vừa thương mẹ vừa thương bố, nhưng thương mẹ nhiều hơn. Thương và lo.

Đêm ấy bố tôi vẫn không về nhà. Suốt buổi tối, mẹ tôi ngồi ăn trầu, lầm lũi không nói năng gì. Tôi mở sách ra học bài, nhưng chữ như nhẩy múa chìm trong nước mắt, tôi ngoảnh mặt giấu mẹ. Khi đã lên giường, mẹ tôi trăn 48trở, trằn trọc một hồi lâu, không biết có thâu đêm không, vì chỉ sau một lúc buồn bã tôi đã ngủ say tít, chẳng còn biết trời đất gì nữa.

Sau hai đêm vắng nhà, đêm thứ ba bố mới về. Bố mẹ chuyện trò êm thấm, không tiếng bấc tiếng chì, mọi việc có vẻ ổn thỏả. Những ngày sau, không khí bình thường, vui vẻ đã trở lại với ngôi nhà trên phố Bà Triệu.

49Chương 3

TUỔI HỌC TRÒ

TIỂU HỌC SƠ ĐẲNG TRƯỜNG KE (QUAI CLEMENCEAU)

Mùa thu năm 1929 tôi cáp sách đến trường. Năm ấy tôi đã 7 tuổi nhưng tính theo tháng thì ngày tựu trường (tháng 9/1929) tôi đã bước sang tuổi thứ 8, nghĩa là chậm mất 2 năm, vì trẻ em 6 tuổi đã bước vào lớp Đồng ấu (lớp 5) - lớp đầu của bậc Sơ học thời ấy. Đến nay tôi vẫn không hiểu vì sao lại chậm như vậy.

Tuy vào học chậm nhưng cũng có cái may: Quy chế tổng thể nền giáo dục công lập ở Đông Dương được ban hành từ năm 1917 nhưng đến năm 1929 mới phát huy đầy đủ tác dụng. Hệ thống trường Pháp - Đông Dương đã định hình. Điều quan trọng nhất là đã có một bộ sách giáo khoa tiếng Việt nghiêm túc và hoàn chỉnh cho bậc Sơ học, do tác giả người Việt Nam biên soạn thành công. Đó là các ông Trần Trọng Kim và cộng sự Nguyễn Văn Ngọc, Đỗ Thận, Đặng Đình Phúc... thuộc thế hệ sĩ phu - trí thức mới uyên thâm, được đào tạo qua hai nền văn hóa truyền thống và hiện đại.

50Theo tinh thần cải cách giáo dục năm 1917, cấp Tiểu học chia làm hai phần, bậc Sơ đẳng có 3 lớp: Đồng ấu (lớp 5), Dự bị (ớp 4), Sơ đẳng (ớp 3) và bậc Tiểu học có 2 lớp: lớp Đệ nhị (lớp 2) và lớp Nhất (lớp 1). Đến năm 1925 lại thêm một lớp Đệ nhị nữa để bảo đảm chủ trương "tất cả bằng tiếng Pháp", tức là bảo đảm tất cả các môn học đều dạy và học bằng tiếng Pháp. Như vậy cấp Tiểu học kéo dài thành 6 năm.

Bộ sách gồm 3 quyển: 1/ Sử ký - Địa dư, 2/ Luân lý, 3/ quan trọng nhất và được người ta chú ý nhiều nhất là sách Quốc văn. Mỗi quyển gồm ba tập cho các lớp Đồng ấu, Dự bị và Sơ đẳng (riêng Sử ký chỉ có hai tập vì lớp Đồng ấu không dạy sử).

Điều đáng chú ý là ngay từ những năm đầu đời, trẻ em đã được học lịch sử, "dân ta học sử ta", đồng thời học luân lý như một chuyên đề đi sâu. Tuy đã có sách chuyên đề về lịch sử và luân lý, sách Quốc văn vẫn dành rất nhiều bài cho hai lĩnh vực ấy.

Những điều tôi thu nhận được trong ba năm Sơ đẳng đã tạo nền tảng ban đầu về ý thức bổn phận đối với gia đình, nhà trường, xã hội và bản thân.

Trong gia đình thì chữ Hiếu là quan trọng nhất: thương yêu, vâng lời bố mẹ, phải cung phụng bố mẹ, sớm tối chăm nom, khi bố mẹ ốm đau, già yếu, thờ cúng tổ tiên, cháu phải kính mến ông bà...

51Ở trường học, học trò phải kính yêu thầy, biết ơn thầy; phải quý bạn, giúp đỡ bạn. Coi trọng bổn phận đối với thầy, đối với bạn khi đang ngồi trên ghế nhà trường cũng như khi đã thôi học. Phải chăm chỉ học tập, coi trọng "học vấn" tức là "kiến thức thâu thái được ở trường" và luôn rèn luyện, mở mang trí tuệ... để đủ tư cách làm một công dân...

Đối với bản thân, phải trọng linh hồn, biết quý thân thể. Ăn uống điều độ, rèn luyện thể chất, xa lánh cờ bạc, rượu chè, nhất là không được nghiện thuốc phiện.

Đối với xã hội, con người luôn là "con người xã hội" nên luôn phải có tinh thần công bằng và nhân ái như coi trọng tính mệnh, tài sản và danh dự người khác, không vu khống, không nói xấu. Nhân ái gồm tình hữu ái, lòng hỉ xả, làm việc thiện. Phương châm cần tuân thủ là: Không làm gì đối với người khác những gì mình không muốn người ta làm đối với mình. Một phương châm nữa là: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Ở đây tôi quan tâm nhất đến tu thân, đó là điều thiết thực nhất, phải có nghị lực, có quyết tâm mới làm được. Sau này tôi luôn trăn trở, tìm tòi suy nghĩ định hướng cho mình.

Các sách đều có chủ ý nêu cao tinh thần dân tộc bằng những chuyện kể về những anh hùng, những nhân tài có công với quốc gia, dân tộc, những vị vua sáng lập những triều đại hiển hách, những người con hiếu thảo "những giá trị dân tộc đích thực" (Trịnh Văn Thảo: Nhà 52trường Pháp ở Đông Dương). Học sinh ngay từ lúc nhỏ đã thấm nhuần những bổn phận của mình. Đó là những mầm mống ban đầu bền chặt của đạo đức làm người. Văn phong ngắn gọn, sáng sủa, lại có nhiều chuyện kể hấp dẫn, sinh động nên dễ hiểu, dễ nhớ, dễ tiếp thu.

Tháng 9 năm 1931, tròn 10 tuổi, tôi vào lớp Trung I. Thầy giáo là một ông trên dưới 40 tuổi, áo dài thâm, quần trắng, đầu trần vẻ một ông đốc học. Thầy hiền hậu mà nghiêm nghị.

Một buổi tối sau ngày khai giảng khoảng một tuần, mẹ bảo tôi ăn mặc chỉnh tề đi với mẹ. Mẹ gọi xe tay, chất lên một tráp lớn sơn son thếp vàng, cái bu nhốt một con gà trống. Chắc là một cuộc thăm viếng quan trọng, nhưng mẹ không nói đi thăm ai.

Sau một đoạn đường khá dài, xe dừng trước một căn nhà thấp bé một tầng mái ngói, bên lề một con đường nhựa không có vỉa hè ở khu phố Đống Đa, con đường mà sau này tôi thường đạp xe đi về mỗi khi về thăm quê ngoại.

Cửa phòng ngoài mở rộng. Một bà đẫy đà đon đả đón mẹ tôi. Tráp được đem vào đặt trên bàn tiếp khách. "Bà vui lòng đợi một chút, ông nhà tôi sẽ ra ngay bây giờ" Cũng phải dăm phút sau, thầy mới từ phòng trong bước ra, quần áo chỉnh tề. Mẹ tôi đứng dậy chắp hai tay, hơi 53cúi đầu cung kính: "Thưa thầy hôm nay tôi đưa cháu đến chào thầy cho phải phép tôn sư trọng đạo ạ!". Thầy từ tốn: "Bà chu đáo quá, đó là trách nhiệm tôi phải làm cho trọn vẹn ạ".

Không khí trang nghiêm khiến tôi bỡ ngỡ, lúng túng, đứng đực ra không biết phải làm gì, đứng yên không nhúc nhích như ông phỗng. May mà thầy chủ động niềm nở giơ tay ra bắt tay tôi. Đây là lần đầu người lớn bắt tay, tôi bỗng thấy mạnh dạn hẳn lên, giơ tay đặt vào lòng bàn tay mở rộng của thầy.

"Cậu bé này thì tôi quá biết, ngồi ở bàn đầu, con trai mà da như trứng gà bóc, rất chăm chú nghe giảng. Nếu cứ tiếp tục như thế thì chắc chắn sẽ học khá và giỏi" - thầy nói. Tôi nghĩ là thầy thẳng thắn, cũng thấy mát lòng, hởi dạ. "Trăm sự nhờ thầy", mẹ tôi đáp. Rồi mẹ nhấn mạnh, rành rọt: "Cháu tên là Ngọc, Nguyễn Xuân Ngọc ạ!"

"Tôi rất vinh hạnh được bà tin cậy giao ủy thác, nhưng cũng xin nói là tôi không ưu ái đặc biệt một em nào cả, tất cả tuỳ thuộc sự phấn đấu của các em". Thầy thẳng thắn và công tâm, tôi cảm thấy rất kính phục và tin tưởng thầy. Mẹ tôi mở tráp, có nhiều bánh trái bọc trong hộp giấy hoặc lá chuối tươi. Mẹ tôi giơ cao bu gà lên rồi từ từ đặt xuống: "Bà chu đáo quá, bày vẽ làm gì!" - Bà vợ thầy giáo nói. "Có gì đâu ạ! Của nhà lá vườn, gà nhà nuôi ở quê. Quê chúng tôi cũng gần đây thôi"

54Sau một lát chuyện trò, mẹ tôi đứng dậy cáo từ. Ông bà giáo đứng dậy cúi chào. Trước khi bước ra khỏi cửa mẹ tôi còn nói với: "Thưa ông bà, cháu tên là Ngọc, Nguyễn Xuân Ngọc đấy ạ!" Tôi suýt bật cười!

Lần đầu tôi chứng kiến một cuộc gặp gỡ, đối thoại rất lịch sự, chân tình giữa người lớn, và tôi nhớ mãi như một bài học không có trong sách giáo khoa.

Đây là việc hoàn toàn bất ngờ với tôi. Mẹ tôi quan tâm đến những việc mà bố tôi ít để ý, quan tâm chi ly đến từng chi tiết tưởng như rất nhỏ nhặt về việc học hành của tôi, tỉ mỉ, chu đáo đến thế là cùng! Kể cũng lạ, làm thế nào mà mẹ tôi dò hỏi ra không chỉ tên thầy giáo, mà cả chỗ ở của thầy mà thậm chí tôi cũng chưa biết! Một lần nữa, tôi phát hiện một nét đặc biệt trong tính cách mẹ. Mẹ gốc gác nông dân nghèo, lại mù chữ, nhưng tỏ ra mạnh mẽ, tự tin, chủ động tìm đến, làm quen một ông giáo từ xưa tới nay vẫn được xã hội trọng vọng mà bà chưa từng quen biết để gửi gắm con mình một cách rất đàng hoàng, lịch thiệp. Mẹ không hề tự ti, mẹ đã dấn thân vì con!

Việc mẹ tôi tìm thăm thầy giáo ngay đầu năm học ghi đậm dấu ấn trong ký ức của tôi về năm học Trung I (1931-1932). Nó nói lên tấm lòng của mẹ và thể hiện nhân cách của mẹ.

Tháng 9/1932 - 5/1933 năm tôi học Trung II. Kỷ niệm về năm học này, tôi đã kể trong hồi ký Lê Tụy Phương.

55Điều đáng nói là tinh thần tự trọng của nhiều học sinh đã được khẳng định ngày càng rõ. Nói gì thì nói, học sinh ở lứa tuổi này đã có một bước trưởng thành về sự tự ý thức và tự khẳng định mình, không còn ngây thơ như đứa trẻ, đó là quá trình trưởng thành về nhân cách mà thầy giáo cần tôn trọng. Riêng với tôi, điều này càng rõ. Tôi không những tự trọng cao, mà còn có ý thức phê phán và phản kháng mạnh mẽ, thậm chí sẵn sàng thể hiện điều đó bằng hành động. Các hình thức kỷ luật như phạt học sinh không thuộc bài hay đại loại như vậy, bằng cách bắt quỳ gối úp mặt vào tường trong nửa tiếng, một tiếng, hoặc dùng thước kẻ đánh vào lòng hai bàn tay... không những làm tổn hại sức khoẻ học sinh mà nghiêm trọng hơn là có tính sỉ nhục, xúc phạm nhân cách học sinh, rất phản giáo dục và không thể chấp nhận. Trách nhiệm ông thầy không chỉ là dạy chữ mà quan trọng hơn là còn dạy làm người. Chính vì vậy mà sự nghiệp giáo dục của người thầy ở mọi thời đại đều được coi là một sứ mệnh cao cả. Vậy là những năm đầu học sinh đã mở đầu một thời kỳ bùng nổ sự đam mê, chủ động tìm đọc văn chương tiếng Việt, vượt ra ngoài khuôn khổ chương trình chính thức. Từ đây mở ra hai con đường, hai dòng chảy song song trong quá trình đi tìm học vấn của tôi: Một dòng chính thống của nhà tường phân phát, hai là con đường tự mình khai mở.

Năm tôi học lớp Nhất (tức năm thứ sáu Tiểu học) tháng 9/1934 - 5/1935, thầy giáo là ông Đào Văn Minh. 56Ông là tác giả cuốn sách "Tập đọc tiếng Pháp" (Lectures francaise) được xuất bản và sử dụng chính thức cho lớp Nhất trong tất cả các trường Tiểu học. Ông người thấp, to béo, dáng dấp hao hao giống bố tôi. Ông điềm đạm hơn ông Kiên (dậy lớp Trung II), ông bỏ qua những lỗi ít nghiêm trọng, không dùng nhục hình để phạt học trò, nhưng ông không ngần ngại đuổi học trò mắc lỗi nặng ra khỏi lớp.

Điều đáng tiếc là sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông dính líu với nhóm phản động Việt Quốc, Việt Cách luôn tìm mọi cách chống phá điên cuồng khiến Nhà nước non trẻ của ta cùng lúc phải đối phó với cả thù trong và giặc ngoài, nghìn cân treo sợi tóc.

"TÌNH YÊU" THƠ TRẺ

Vào những năm cuối Tiểu học, khoảng 12-13 tuổi, những dịp về thăm quê mẹ, tôi thường ngẫu nhiên trông thấy một cô gái trạc tuổi tôi, xinh xắn, người thon thả, gương mặt khả ái, ít nói cười, tên là cô Tít. Tôi để ý đến cô. Có lần thấy cô cùng một cô lớn tuổi hơn tát nước gầu dai vào ruộng, tôi dừng chân ngắm cô rất lâu. Cô bất ngờ nhìn thấy tôi, mặt hơi đỏ lên, hơi ngượng nghịu, tay bắt đầu lỗi nhịp tát gầu. Tôi cũng ngượng, đảo mắt nhìn ra hướng khác và tiếp bước trên đường vào làng. Từ đó, tôi cảm thấy quyến luyến mà không hiểu tại sao.

57Một bà vào hàng chị, tôi không nhớ là ai, có vẻ đoán biết tình cảm của tôi, bảo: "Cô ấy cùng hàng với mẹ chú đấy. Chú phải gọi cô ấy bằng dì, dì Tít"

Mặc, gọi dì nghe xa cách quá, tôi cứ gọi là cô, cô Tít. Mà cái tên cũng kỳ, chẳng có gì thơ mộng, nhưng cứ vấn vương không sao quên được! Mặc dù chưa bao giờ giáp mặt, chuyện trò, nghe một tiếng nói, tiếng cười, chỉ thận trọng quan sát từ xa, tảng lờ như chỉ chú ý tới cảnh, không chú ý tới người. Tuồng như có một cơ duyên tiền định bất thành.

Sau này, khi tôi đã có mối tình đầu - đã thành mối tình bất tử - rồi lập gia đình, sinh con, tôi vẫn quan tâm hỏi thăm tin tức về cô. Năm 1947, khi quân Pháp mở cuộc tấn công thu đông, tôi cùng vợ đưa cả đại gia đình hai bên nội ngoại tản cư vào miền Trung. Trên đường đi, gia đình tôi tạm dừng ở Vân Đình để dò tìm đường vào Thanh Hóa. Mặc dù đang thời chiến tranh, đây là một trạm trung chuyển Bắc - Nam luôn tấp nập đông vui như một thị trấn thình lình từ dưới đất mọc lên. Dường như một phần khá đông dân Hà Nội đang dừng chân tạm sống tại đây: buôn bán, mở hàng cơm, hiệu ảnh, tạp hóa... đem từ thành phố ra. Tình cờ gặp chú Quỳnh, anh ruột của cô Tít, cho biết tin: Cô ấy lấy chồng, theo chồng vào Thanh Hóa. Vậy là tôi yên tâm. Gái thời loạn, thuyền đã có bến đậu.

58Hòà bình lập lại, nhân một chuyến về quê, tôi biết tin cô Tít đã mất ở Thanh Hóa trong những năm chiến tranh. Một thôn nữ dịu hiền, cuộc đời ngắn chẳng tầy gang, đã làm rung động trái tim thơ trẻ của tôi một thời xa vắng. Mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn thấy xót thương và tri ân cô như một người qua đường đã cho tôi một kỷ niệm đẹp trong đời mà không hề hay biết!

NHÌN LẠI 16 NĂM ĐÈN SÁCH (1929-1945)

Sau những năm tự học tại nhà, đây là giai đoạn quyết định trong quá trình trưởng thành và chuẩn bị bước vào đời. Trong 16 năm ấy, tôi đã hoàn thành 6 năm tiểu học, 6 năm bậc tú tài và 4 năm học nghề luật. Tôi đã thu nhận được một nền tảng vững chắc kiến thức phổ thông tiên tiến của thời đại, đã học được một nghề, để bảo đảm cuộc sống gia đình, vừa có thể giúp ích cho xã hội. Vậy là đã mất khoảng 23 năm, tức gần một phần ba cuộc đời, chỉ còn khoảng 40 năm để phục vụ xã hội. Thời gian này thật dài và cũng thật ngắn! Phải lao động thế nào để xứng với bao công sức mà gia đình và xã hội đã bỏ ra để ươm một mầm non tơ dần trở thành một tiềm năng có sức mạnh hành đạo, với những khả năng thực tiễn biến những ước mơ thành hiện thực phục vụ con người! Đây thực sự là một sự biến đổi kỳ diệu như một phép thần thông.

59Trước tiên phải kể đến bậc sơ đẳng. Cùng với những kết quả của ba năm tự học, bậc sơ đẳng đã đặt nền tảng ý thức về bổn phận làm người - với cha mẹ, với bản thân, với thầy, với bạn, với nhân dân, với xã hội. Ý thức đó không bao giờ phai nhạt và dần được phát triển cùng với sự tiếp thu thành tựu của văn minh, văn hoa phương Tây, mà hiện diện cụ thể nhất là văn minh, văn hoá Pháp.

Ba năm sau của tiểu học (hai lớp đệ nhị và lớp nhất) phát triển kiến thức phong phú, đa dạng hơn nhiều. Tiếng Pháp chiếm địa vị độc tôn, "tất cả các môn đều dạy và học bằng tiếng Pháp". Tôi vượt qua giai đoạn "bài tập ', bắt đầu tìm đọc những tác phẩm văn học Việt Nam và Pháp. Tôi sớm chú ý rèn luyện đọc, viết, nói thành thạo không chỉ tiếng Việt mà cả tiếng Pháp. Đó là nhờ sự sáng suốt và kinh nghiệm sống mà bố tôi truyền đạt cho tôi, chắc chắn là có ý thức và mục đích thực tiễn rõ ràng. Sở dĩ bố tôi có công ăn việc làm ổn định ở Hà Nội với mức lương khá, chính là nhờ ông khá giỏi tiếng Pháp nên được cử làm trưởng phòng đánh máy tại một doanh nghiệp lớn của Pháp.

Mùa hè năm học lớp sơ đẳng, bố tôi mượn được quyển truyện Pháp: Pôn và Viếc-gi-ni (Paul et Virginie) đưa tôi xem. Tôi đọc, hiểu được nội dung không khó khăn lắm, có gì chưa hiểu rõ thì tối bố tôi chỉ bảo. Kỳ nghỉ hè năm Đệ nhị I, bạn Trung cùng lớp, con cụ Tú Mỡ, cho tôi mượn quyển "Không gia đình" (Sans famille) hai tập của 60Hector Malot, tôi say sưa đọc ngày đêm. Đó là hai cuốn sách Pháp duy nhất tôi đọc trong ba năm ấy. Thời ấy, sách Pháp hiếm và đắt, khó mượn.

Bù lại, tôi đọc cơ man sách tiềng Việt, nhan nhản trên các quầy sách. Một máng lớn là sách dịch truyện Tàu như: Tam quốc chí, Thủy Hử, Đông Chu liệt quốc, v. v. Sách dịch truyện Pháp như: Ngụ ngôn La Fông-ten (Fables La Fontaine của nhà thơ Jean de la Fontaine, Nguyễn Văn Vĩnh dịch), Những người cùng khổ (Les Miserables) của Victor Hugo, và các tác giả khác. Tác phẩm của các tác giả Việt Nam cũng rất phong phú (như nhóm Tự Lực văn đoàn và nhiều tác giả khác ).

Sáu năm, từ 1935 đến hết bậc tú tài, là giai đoạn quyết định, không chỉ định hướng học tập, và hơn thế, còn định hướng cả cuộc đời. Tôi không chỉ trau dồi kiến thức phổ thông, mà còn đồng thời học tập lý luận cách mạng, kinh nghiệm hoạt động cách mạng thực tiễn, và trực tiếp tham gia hoạt động trong Phong trào Dân chủ Đông Dương do Đảng khởi xướng, tổ chức và lãnh đạo. Đó là thời kỳ hào hùng, sôi nổi của liên miên những cuộc hội họp, mít-tinh, biểu tình, diễu hành trên các đường phố thủ đô, lôi cuốn đông đảo học sinh các trường tư thục và công quản, các tầng lớp nhân dân thuộc các thành phần không phân biệt giai cấp, tôn giáo, giàu nghèo, xu 61hướng chính trị khác nhau... Tất cả đoàn kết xung quanh những khẩu hiệu đòi các quyền dân sinh, dân chủ như tự do báo chí, tự do hội họp...

Từ năm 1939, phong trào rút vào bí mật. Tôi tham gia Thanh niên Dân chủ (1939 - sau đổi là Thanh niên Phản đế, rồi Thanh niên Cứu quốc), tham gia Hội Văn hoá Cứu quốc (1943)...

Một điều không kém quan trọng là định hình phương pháp, phong cách học tập. Đó là tự học. Tôi không tự bó mình trong giáo trình học đường, mà chủ động, tích cực tìm tòi những nguồn tri thức mới, luôn mở rộng tầm nhìn, đào sâu vào các ngóc ngách với mục đích đi đến tận cùng chân lý. Có thất bại nhưng cũng có những niềm vui kỳ lạ. Đó là khi phát hiện những hiểu biết mới, tìm được lời giải cho một vấn đề nào đó. Đó là sự khao khát và niềm vui khám phá những bí ẩn của thiên nhiên, xã hội. Cũng giống như các nhà thám hiểm những thế kỷ trước đã phát hiện ra Châu Mỹ và nhiều vùng đất mới khác. Đó cũng chính là sự trẻ trung và sức mạnh sáng tạo của trí tuệ. Tôi cố gắng giữ gìn sự trẻ trung này kể cả trong thời kỳ công tác.

CHIẾC XE ĐẠP VÀ LỜI NÓI DỐI ĐẦU TIỀN TRONG ĐỜI

Khi tôi bắt đầu năm thứ ba Thành Chung thì bố tôi đã ở với bà khác, thỉnh thoảng mới về chốc lát, thăm hỏi 62và trao tiền trợ giúp cho mẹ tôi. Có thời gian dài, ông tới lui thất thường, tiền thì lúc có, lúc không, mẹ con tôi lâm vào cảnh thiếu thốn trầm trọng, có những lúc tưởng chừng không vượt nổi, nhưng bấm bụng chịu đựng rồi cũng qua, buộc phải quen dần với hoàn cảnh tự lực cánh sinh. Năm ấy, thậm chí tôi không có tiền trả học phí, đành "học chui". Đau buồn nhưng tôi không tuyệt vọng. Tôi càng lao vào học. Kết quả là tôi được thầy gần như thường xuyên tuyên dương trên lớp, dù tôi có mặt hay vắng mặt. Điều đó phần nào an ủi mẹ tôi, đó là món quà có ý nghĩa nhất tôi tặng mẹ. Thời gian ấy, mẹ tôi chịu nhiều hy sinh nhất, nhiều đau khổ nhất, nhiều đêm thương mẹ chỉ biết khóc thầm.

Bố tôi không hoàn toàn đoạn tuyệt với mẹ con tôi. Sau thời gian ấy, ông lại thỉnh thoảng đến thăm nom, đôi khi cũng trợ giúp mẹ tôi. Tôi thông cảm hoàn cảnh éo le của ông, phần vì điều kiện khách quan, phần vì ông tự quàng vào mình những sợi dây trói buộc mà ông không đủ ý chí và nghị lực để cởi bỏ. Nhưng từ lâu rồi, tôi cũng như mẹ tôi đã dần quen với sự vắng mặt của ông, không còn trông cậy gì nhiều vào ông. Đây là bi kịch cả với bố tôi, mẹ tôi và tôi.

Bố tôi là người hiền lành, thường ít nói, nhiều tình cảm nhưng ít khi bộc lộ và cũng không quen chia sẻ, có những tình cảm ông không nói ra được, đành chôn sâu trong lòng. Tôi đoán chắc ông không tránh khỏi những day dứt, đau khổ, ông đâu có thanh thản. Ông có nhiều 63điều không phải với mẹ con tôi, nhưng tôi không mong muốn ông phải hối hận về những điều ấy, bởi việc ấy sẽ làm cho ông phải đau khổ mà không giải quyết được gì, ông có thể đánh mất lòng tự trọng và tuyệt vọng một cách vô ích. Xét cho cùng, ông đáng được thông cảm, tôi vẫn rất yêu thương ông.

Những khi ông đến nhà, tôi thấy ông bần thần, rất ít nói, gần như câm lặng, dường như ông biểu cảm sự quan tâm đến vợ, con chỉ bằng sự có mặt của mình. Hè năm 1940, trước ngày tôi thi tú tài phần thứ nhất, ông đến vào buổi tối, hỏi han, động viên tôi. Tôi nói: "Bố yên tâm, con rất tự tin, con sẽ vượt qua kỳ thi không có gì khó khăn". Bố con tôi ngồi với nhau khá lâu mà hầu như chẳng nói gì, thông cảm với nhau trong im lặng. Sau kỳ thi, bố tôi đến thăm hỏi kết quả, bố rất phấn khởi. Tôi thật sự cảm động trước sự săn sóc của bố.

Đầu năm 1943, sau Tết, hai gia đình chung sức tố chức hôn lễ cho chúng tôi. Phía gia đình tôi, mọi sự chuẩn bị theo nghi thức truyền thống và về vật chất, mẹ tôi một mình lo liệu, với sự tham gia của Tụy Phương, người vợ tương lai. Bố tôi không biết gì vì chúng tôi không báo, để khỏi khiến ông thêm khó xử. Ông không tham gia việc chuẩn bị, cũng không đại diện cho nhà trai, không tham gia lễ rước dâu..., ông đứng sang bên cạnh. Thời gian này, ông có mặc cảm tự ti ngày càng nặng nề. Sau ngày cưới, ông rất ít khi đến nhà thăm hỏi mẹ tôi và chúng tôi.

64Bằng một thời gian, một ngày đầu thu năm ấy, thình lình ông đến thăm chúng tôi. Lúc đó, vợ chồng tôi đã chuyển đến ở Nhà Hộ sinh con Rồng (127-129 Phùng Hưng) - vợ tôi đã có thai - mẹ tôi vẫn tạm ở chỗ cũ 17 Chân Cầm (tên cũ Lagisquet).

Tôi từ trên gác xuống mở cổng. Bố tôi dắt một chiếc xe đạp màu xanh vào sân, đặt tựa vào tường phòng khách ở tầng trệt, rồi nói một cách hồ hởi: "Bố mua chiếc này tặng anh, tìm mãi mới được cái này vừa ý. Anh xem này, tuy xe cũ mà vẫn sáng, còn rất tốt".

Đó là xe đạp nam. Tôi nhắc lên, đặt xuống vài lần, xe có vẻ chắc chắn, tay lái, yên còn tinh tươm, nước sơn nhẫn trơn, quay thử bàn đạp chạy ro ro... đúng là xe còn tốt. Nhưng cái gây cho bố ấn tượng "sáng như gương" là đôi vành thì đó là vành sống trâu đã bắt đầu được xếp vào loại đồ cổ, sơn trắng bằng nhũ nên thấy lấp lánh.

Cũng chẳng sao, cái khiếm khuyết ấy không ảnh hưởng gì chức năng cơ bản của chiếc xe. Tôi tỏ vẻ nhiệt tình hoan hỉ, hết lời khen xe tốt, xe đẹp, rối rít cảm ơn bố: "Bố cho con món quà rất quý; vì con, bố đã bỏ nhiều công sức vào đó, con cảm ơn bố nhiều".

Bố tôi tỏ vẻ rất hài lòng.

Những lời nói và thái độ của tôi có cái giả và cái thật. Lời tôi khen chiếc xe có thật, có giả. Thái độ "hoan hỉ, rối rít", giả ít, thật nhiều. Nhưng phần thật này chưa thể 65hiện đầy đủ những tình cảm sâu lắng của tôi khi nhận quà từ tay bố tôi.

Những cái giả đó thật ra chỉ là sự cường điệu cái thật ở một mức độ nào đó, và cố ý bỏ qu cái khiếm khuyết (không lớn), nếu coi đó là nói dối, thì đây là lần nói dối đầu tiên của tôi trong đời, chỉ cốt để bố tôi vui. Và bố tôi đã vui, rất vui, vui thật sự. Tôi rất mừng thấy bố đã có những giờ phút vui vẻ, hạnh phúc.

Tôi gọi vợ xuống chào bố, giới thiệu con dâu của bố. Tụy Phương ngắm xem xe rồi mời bố vào phòng khách. Tôi nói: "Lẽ ra, sau khi cưới, chúng con phải đến chào bố và dì, nhưng không biết bố ở đâu (đó là sự thật). Cũng vì thế, chúng con không kịp báo để bố biết ngày cưới, chúng con chỉ có 10 ngày chuẩn bị, mọi người đều tất bật. Chúng con xin lỗi bố"

Bố tôi xua tay: "Anh chị nào có lỗi gì. Tôi cũng biết tin, nhưng vào hoàn cảnh tôi, đến chả chắc giúp được gì, chỉ gây phiền hà, nên tôi lánh mặt".

Im lặng một lúc, rồi ông nói tiếp: "Nhiều lúc, nghĩ lại, tôi cũng thấy..", ông ngừng bặt, hơi cúi mặt. Tôi biết ông kìm nén cảm xúc và đang cố trấn tĩnh, tôi cũng đoán biết ông định nói gì... Không khí chùng xuống. Để xóa đi những mặc cảm của ông, và của cả chúng tôi nữa, tôi cố tạo ra không khí vui vẻ, mong ông có niềm vui trọn vẹn trong lần gặp mặt này.

66Ông trở lại bình tĩnh, nhìn Tụy Phương và nói: "Anh Ngọc giờ đã có chỗ tựa rồi. Có thể yên tâm lo sự nghiêp. Thế anh định làm gì trong tương lai?"

- Thưa bố, con định làm luật sư.

- Ừ, thế là phải, đừng đi làm viên chức cho Tây. Tôi là trưởng phòng thư ký đánh máy ở IDEO, mà thằng chủ cũng chẳng nể nang, làm sai là nó mắng, nếu là nhân viên bình thường, có khi nó mẹc xà lù (tiếng chửi bậy), có khi nó còn bạt tai. Không ai dám chống lại, chống lại thì nó đuổi ngay, khi đó sống bằng gì, lấy gì nuôi vợ con. Làm cho Tây nhục thế đấy mà cứ phải cắn răng chịu đựng. Nước còn nô lệ thì nhục còn.

Đây là dịp để ông nói cho hả dạ những u uẩn trong lòng.

Chúng tôi mời bố ở lại ăn cơm, bố từ chối. Chúng tôi tiễn bố ra về. Tôi định gọi xe tay đưa bố về, bố xua tay:

- Ngồi xe tay trông kênh kiệu lắm, bố quen đi bộ mà. Bố tôi về đã lâu, mà tôi vẫn xốn xang. Lần đầu tiên bố con trò chuyện lâu như thế, cũng lần đầu bố thổ lộ tâm sự cái nhục làm công cho Tây. Bố tự mình thấy được chân lý "nước còn nô lệ thì nhục còn".

Điều khiến tôi xúc động nhất là ông "lao tâm khổ tứ" tìm cho được cái xe đạp vừa ý để mua tặng con. Ông cả đời đi bộ, không đạp xe bao giờ, nên lại đẩy xe đến tận nhà giao tận tay cho tôi, chu đáo đến thế là cùng! Nào 67ông có biết gì nhiều về xe, ông rất tự hào tặng con một chiếc xe đẹp "sáng như gương", nhưng chính chút nhầm lẫn của ông lại càng đáng kính nể, trân trọng và càng làm tôi cảm động.

Tôi cũng biết mấy năm gần đây, ông có nhiều khó khăn. Lương trưởng phòng đánh máy tại một nhà in lớn nhất Đông Dương chắc là khá. Nhưng từ những năm 1939-1940, nổ ra chiến tranh thế giới, rồi Nhật đưa quân vào Việt Nam, giá cả vùn vụt, đồng lương bị gậm nhấm, co dần lại như miếng da lừa. Trừ phi chủ nhà in tăng lương bù trượt giá đồng tiền. Nhưng chắc gì nó tăng. Tôi chắc bố tôi gặp nhiều khó khăn chồng chất. Phải nuôi hai người lớn, rồi còn chuẩn bị cho đứa con đầu chào đời nữa chứ! Tôi biết, khoảng năm 1940, dì đã hợp tác với một người xã Yên Mỹ (quê mẹ tôi), từng làm đầu bếp cho Tây, mở một hiệu phở ở ngõ chợ Khâm Thiêm, chưa được một năm đã đóng cửa. Nghĩ đến hoàn cảnh ấy, tôi càng thương bố. Ông đã dành dụm, chắt bóp bao nhiêu ngày, bao nhiêu tháng để có đủ tiền mua xe tặng con? Đây là một sự hy sinh lớn của bố vì con.

Đầu xuân Mậu Tý (2008), tôi nghĩ nhiều về những kỷ niệm tốt đẹp về bố. Nhớ lại sự dạy dỗ của bố khi tôi còn nhỏ, sự quan tâm của bố trong thời niên thiếu và thời thanh niên, sự đồng cảm, chia sẻ và dặn dò của bố khi tôi hoạt động bí mật, tấm lòng yêu thương không bao giờ nguôi của bố đối với mẹ và tôi. Bố hiền lành, thật 68thà, nhân hậu, bao dung, cuộc đời của bố một thời gian dài nhiều buồn hơn vui, chỉ mươi mười lăm năm cuối đời mới được hưởng hạnh phúc trọn vẹn. Công ơn của bố, tôi không bao giờ quên. Tôi chỉ ân hận khi bố còn sống, tôi không đến thăm bố được nhiều hơn nữa để chia sẻ cùng bố những thông tin, suy tư, tình cảm...

69Chương 4

SAU CÁCH MẠNG MÙA THU (THÁNG 8/1945)

Shai Cách mạng: Thần g T và, nhứ nai -ối đt cóc mời dạy địa lý tại trường trung học tư thục Phan Chu Trinh mới khai giảng tại phố Nguyễn Thái Học do thầy Đặng Thai Mai làm Hiệu trưởng; đồng thời lúc đó, tôi làm phóng viên báo Le Peuple (Dân chúng) của Đảng, do anh Lưu Văn Lợi làm chủ bút. Sau đó, tôi tập sự luật sư tại Văn phòng Luật sư Phan Anh. Nhờ những công việc đó, tôi bắt đầu có một ít thu nhập tạm đủ cho sinh hoạt. Vợ tôi, Lê Tụy Phương - đã khởi dụng nghề buôn bán hàng tơ lụa, chủ yếu là lụa tơ tằm, từ mấy năm trước, nay lại tiếp tục. Nhờ hai nguồn thu nhập ấy mà cuộc sống gia đình có phần dư dả hơn.

Bấy giờ Tụy Phương nhận nhiệm vụ làm kinh tế cho Tổng đoàn Thanh niên. Tụy Phương dùng căn phòng ngoài tầng một, vốn thuộc Nhà Hộ sinh Con Rồng 127- 129 phố Phùng Hưng (thời Pháp là Đại lộ Henri d'Orléan) đặt cửa hàng Thanh Tiến, mua máy khâu, khung dệt để 70may, thêu những sản phẩm cung cấp với giá rẻ cho các đoàn, đội thanh niên, thiếu niên nhi đồng, như bộ đồng phục, cờ, phù hiệu, huy hiệu... cũng thu được một số tiền cho quỹ của Tổng đoàn. Nhưng số tiền ấy quá nhỏ, không thấm tháp gì so với nhiệm vụ quan trọng bậc nhất hồi đó của Tổng đoàn là chi viện cho các đơn vị quân đội Nam tiến. Tụy Phương phải vận động các nhà hảo tâm đóng góp và cũng tự mình đóng góp một phần cho quỹ Nam tiền.

Hai vợ chồng tôi làm việc ở ngoài nhiều, mẹ tôi lo việc nội trợ và trông nom, chăm sóc hai cháu bé. Con đầu cháu sớm, hai cháu ra đời cách nhau hơn một năm là niềm hạnh phúc, có phần bất ngờ và to lớn nhất của mẹ. Mẹ dồn hết tâm trí, tấm lòng và sức lực chăm sóc các cháu, bồng bế nâng niu quý hơn vàng. Bà thường nói ông trời có mắt. Ông trời thương bà, bù đắp những mất mát của bà.

Tụy Phương mời thím Kế (gọi theo tên chồng) một người em thuộc họ nội ở Nam Sách ra trông hai con nhỏ. Tụy Phương tuyển hai thanh niên giúp việc nhà: Chú Vực có họ với dì Thu - bà vợ hai của bố tôi - ở Ô Cách gần Hà Nội và chú Châu không rõ quê quán. Chú Vực có nhiệm vụ giữ gìn nhà cửa, lo cơm nước, trồng rau trong khuôn viên... Chú Châu lực lưỡng khỏẻ mạnh, chuyên kéo xe tay của nhà đưa Tụy Phương đi công việc. Tụy Phương kể, có lần Châu hỏi: "Thưa mợ, có phải cậu làm chức gì to lắm, cậu chỉ huy quân đội phải không?" Tụy 71Phương bảo: "Cậu chẳng làm gì to cả, không phải là cấp chỉ huy quân đội. Trước cách mạng, cậu làm công tác chính trị, tuyên truyền vận động cách mạng, bây giờ cậu làm nhiều việc cũng để phục vụ Nhà nước". Thì ra, chú Châu vẫn quan sát chúng tôi, có những nhận xét ngồ ngộ và bất ngờ. Làm được vài tháng, chú xin nghỉ.

Trời đã vào tiết thu, "Đã nghe rét mướt luồn trong gió/ Đã vắng người sang những chuyến đò" (Xuân Diệu). Nhưng tình hình chính trị Thủ đô thì không yên ả và thơ mộng như trong câu thơ mà ngày càng nóng lên với nhiều mối nguy hiểm bởi những vụ khiêu khích ngày càng trắng trợn của lũ mũ nồi đỏ trong quân đội Pháp. Tôi đưa mẹ tạm lánh về quê ở với dì Đuốc. Trên đường quay ra đến trước đình làng Cổ Điển, cổng đóng chặt, trong sân đình, một số đông thanh niên, ăn mặc chỉnh tề, xếp thành những hàng ngang, đang im lặng, chăm chú nghe một người nói chuyện. Tôi dừng chân trước cổng đình tò mò quan sát. Bỗng người đang nói chuyện ngừng lại, chạy ù ra gặp tôi. Thật bất ngờ, đó là chú Châu. Sau khi rời nhà tôi, chú đã xin vào bộ đội và được cử về vùng này huấn luyện dân quân du kích. Tình hình đang khẩn trương, cuộc gặp gỡ gấp gáp, vội vã, chỉ kịp trao đổi với nhau vài câu rồi chia tay. Tôi biếu chú một ít tiền. Không ngờ cuộc gặp gỡ cũng là cuộc vĩnh biệt. Tôi không bao giờ gặp lại chú Châu nữa.

72Nguy cơ chiến tranh ngày càng hiện rõ, dân bắt đầu tản cư. Tôi về quê đón mẹ ra, rồi đưa mẹ cùng Phương và hai con nhỏ lên tàu hỏa, tản cư về quê vợ ở thị trấn Nam Sách, Hải Dương.

TIẾNG NẤC BÊN SÔNG HÀN

Cuối buổi chiều, tàu đến ga Hải Dương, chúng tôi đi bộ đến bến đò Hàn. Thị xã Hải Dương bắt đầu lên đèn, nhưng bến thì bắt đầu chìm trong bóng tối. Đứng đợi đò khá lâu. Bỗng nghe tiếng khóc nấc lên tức tưởi. Tôi ôm chặt vai Tụy Phương, lòng nao nao, bất giác cũng ràn rụa nước mắt. Đối với chúng tôi thì chiến tranh đã hiện diện. Sông Hàn, sông Hàn! Sông Hàn là ranh giới mong manh. Sang bờ bên kia là chúng tôi dấn bước vào cuộc chia ly, không báo trước ngày hội ngộ! Tất cả gánh nặng gia đình với muôn vàn rủi ro thời loạn lạc sẽ đè lên đôi vai gầy của vợ!

Tôi bỗng thấy bùng lên sự uất hận. Sông Hàn không phải là sông Địch thời Kinh Kha xa xưa trong truyện cổ Trung Hoa. Sông Hàn sẽ lớp lớp sóng dồn dìm chết quân thù!

Sang sông, đi bộ dăm ki-lô-mét là đến Nam Sách. Ông ngoại (tức bố vợ tôi), bà ngoại, các em Long, Khánh, Nga có mặt đầy đủ, tập trung ở ngôi nhà gạch hai tầng mới xây ở trung am thị trấn. Chỉ thiếu em Thành ở lại tham gia Tự Vệ thành), chiến đấu bảo vệ Thủ đô. Em gái lớn Lê Thị Gia Tĩnh đã tản cư về ấp Đồi Sỏi của nhà 73chồng ở Hiệp Hòà, Bắc Giang. Gia đình riêng của tôi, không kể tôi cũng đủ bốn người, mẹ tôi, Tụy Phương, hai con nhỏ. Hoài Niệm hơn hai tuổi. Diệu Anh hơn một tuổi. Mới đến tối hôm trước thì sáng hôm sau đã ồn ào những tin tức về xung đột giữa ta và quân Pháp ở Hải Phòng. Quân Pháp từ tàu chiến đậu ở cảng Hải Phòng đã bất thình lình đổ bộ tấn công thành phố. Quân ta đã dự kiến, đề phòng, chuẩn bị từ trước, chống trả quyết liệt. Lửa chiến tranh đã bùng cháy trên đất cảng. Trên thực tế, đất nước đã bước vào chiến tranh, mặc dù Hồ Chủ tịch chưa phát lệnh kháng chiến toàn quốc.

Ông bà ngoại cùng mẹ tôi, tôi và Tụy Phương ngồi lại bàn bạc. Tôi nói: "Hà Nội - Hải Phòng là con đường huyết mạch của quân Pháp, chúng phải cố giữ bằng bất cứ giá nào, để bảo đảm an toàn việc chuyển quân và vũ khí, chúng sẽ đánh rộng ra hai bên đường. Nam Sách nằm bên con đường lớn, rất dễ bị tấn công, không loại trừ khả năng chúng lập đồn bốt tại đây. Bố mẹ nên sớm chuyển đến một nơi an toàn hơn. Nghe nói, trước cách mạng, ngoài những khu căn cứ cách mạng ở Việt Bắc, Đông Triều cũng có khu căn cứ. Bố đã từng bươn chải suốt một dải từ Đông Triều đến Uông Bí, Hòn Gai, Cẩm Phả... chắc bố biết rõ vùng này. Bố tìm một chỗ tương đối an toàn tạm đưa cả hai nhà tản cư đến đó, rồi sẽ tính tiếp". Tối đó, tôi nói chuyện riêng với Tụy Phương. Từ trước Tụy Phương đã kịp chuyển nhiều quần áo, đồ dùng về Nam Sách. Tôi dặn nên bỏ lại những đồ nặng nề, cồng 74kềnh, như chăn bông to, áo bông..., chỉ mang theo những đồ gọn nhẹ. Tôi đưa Tụy Phương tất cả tiền Đông Dương, đưa mẹ một ít, chỉ giữ lại số tối thiểu đủ ăn cơm bụi chừng một tháng.

Lúc chia tay, nao nao bao điều lo âu, bịn rịn những thương cùng nhớ, tâm can xáo động trước những hiểm nguy đầy rẫy phía trước. Trái lại, Tụy Phương có vẻ dần mình, không tỏ gì ưu tư, bi luy mà rất bình tĩnh, rắn rỏi. Tụy Phương nói: "Em sẽ có gắng bảo đảm an toàn cho các con, cho mẹ, không để mẹ và con phải thiếu thốn. Anh hãy tin em. Anh cố gắng giữ gìn sức khoẻ, đừng thức khuya, cố gắng ăn uống điều độ và luôn giữ tinh thần thanh thản, đừng quá lo lắng cho vợ con và mẹ. Anh cầm thêm tiền để ăn uống đầy đủ. Vả lại, biết bao giờ mới gặp lại cơ quan. Anh sống yên bình, mạnh khoẻ thì mẹ con em mới yên tâm. Rồi có ngày vợ chồng con cái lại hội tụ, em tin là không xa lắm đâu. Bây giờ các cơ quan đang tìm đường lên Việt Bắc thì chưa gặp được, nhưng khi đã có địa điểm ổn định thì chúng ta sẽ đi tìm. Con đường của anh và của em sẽ gặp nhau thôi, vì cùng thuộc Tổng bộ Việt Minh. Em tin chỉ vài tháng nữa thôi chúng ta sẽ gặp nhau. Anh yên tâm và vui vẻ nhé".

Tôi thầm cảm phục Tụy Phương cứng rắn và bản lĩnh, điểm tựa vững chắc của tôi trong những khúc quanh của cuộc đời.

75Chương 5

KHÁNG CHIẾN 9 NĂM (1945-1954)

SUY NGHĨ VỀ TRÍ THỨC TIỂU TƯ SẢN

Đầu năm 1947, tôi đưa vợ con, sau đó là mẹ tôi và bố mẹ vợ với ba em vợ nhỏ tuổi tản cư lên thị xã Vĩnh Yên, ở nhờ nhà anh bạn Ngô Khảm, hạ sĩ quan trong quân đội Pháp, đã cùng hoạt động bí mật trước Cách mạng Tháng Tám. Sau vài ngày, chúng tôi chuyển lên Đồi Me (người dân địa phương gọi là Me Đồi), huyện Tam Dương. Tôi nấn ná tại đây, tìm đến và giữ liên hệ thường xuyên với Tỉnh ủy, Ủy ban Hành chính Kháng chiến, đặt tại thị trấn huyện lỵ Tam Dương cũng trên đất Me Đồi, để chờ tin tức cơ quan (Ban Tuyên truyền Xung phong Trung ương, Tổng bộ Việt Minh), và theo dõi thời cuộc. Tôi kết bạn với vợ chồng anh Vũ Tuân, Bí thư, và chị Nguyễn Thị Vân, với anh Hòa - Phó Chủ tịch, chưa có dịp gặp anh T - Chủ tịch tỉnh Vĩnh Yên.

Ngày lại ngày, từng tốp, từng đoàn người tản cư nườm nượp kéo lên, rồi tiếp tục qua Việt Trì lên Phú Thọ, Tuyên Quang, hoặc rẽ ngả Bình Ca, hướng phía Đại Từ, Thái Nguyên... Đó cũng là lộ trình của một số cơ quan Chính phủ, đoàn thể đang di chuyển lên Việt Bắc. 76Người dân dường như "bám" được hướng đi của Chính phủ. Chính phủ đi đâu, họ theo đến đó. Lòng yêu nước và niềm tin của người dân vào Chính phủ, khiến họ rời bỏ cuộc sống yên ổn nơi xóm làng, thành thị để dấn thân, tham gia kháng chiến, mặc dù chưa biết làm gì và sẽ như thế nào.

Trên đường tản cư, một số tạm dừng chân ở thị xã trước khi hối hả tiếp tục cuộc hành trình vô định. Võ sĩ Quỳnh, một võ sĩ quyền anh nổi tiếng ở Hà Nội, người đã từng dạy tôi mấy năm về trước, dán trước cửa nhà mảnh giấy viết tay: Nhận huấn luyện quyền anh. Anh Quỳnh vốn ở phố Tạ Hiện, phố của người nghèo, nay chắc đang vật lộn với cuộc mưu sinh, thời buổi này, mấy ai thảnh thơi nghĩ đến học võ.

Tôi tình cờ gặp anh Khánh, tôi đã quen biết từ trước cách mạng, ở trường trung học tư thục Thuận An, thành phố Vinh. Tôi dạy Pháp văn lớp hai, anh dạy lớp ba. Trao đổi vội vã, chóng vánh vài phút tin tức gia đình, sức khỏe, công việc... rồi chia tay. Anh đã về Hà Nội, chuyển sang ngành giao thông vận tải, mới đưa vợ và hai con nhỏ lên đây, anh đang tìm về cơ quan. Điều anh lo lắng là tiếp tục chạy thầy chạy thuốc cho người vợ ốm đau, chị đã bỏ lại thành phố cả cơ nghiệp của mình là cái cửa hàng tạp hóa bé nhỏ phố vắng, sắp tới vẫn phải kiếm việc làm thêm cho chị mới đủ nuôi sống gia đình.

Tôi thấy anh Hoạt, bác sĩ nhãn khoa, và một số trí thức có tiếng khác của Hà Nội. Tôi cũng biết một số thanh 77niên theo gia đình lên chưa có việc làm, có người đã tốt nghiệp cao đẳng tiểu học, có người chuẩn bị vào đại học... Sau một thời gian ở Me Đồi, tôi gặp T - Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến tỉnh. Anh đến thăm tôi tại nơi chúng tôi đang ở nhờ trong làng. Cuộc viếng thăm hơi bất ngờ. Tụy Phương có mặt, đang bận chăm sóc cháu Châu Thu mà Tụy Phương nhận nuôi hộ vợ chồng anh chị Đào Duy Kỳ - Trần Thị Minh Châu, nên chỉ mình tôi tiếp. Sau những lời thăm hỏi và trao đổi tin tức, tôi gợi ý: "Trong những người tản cư, tôi thấy có không ít trí thức, học sinh đã tốt nghiệp, sinh viên..., nên chăng các anh cử cán bộ tiếp xúc với họ, thử xem ai có chuyên môn, năng lực thích hợp và hoàn cảnh thuận tiện, mời họ làm việc hoặc cộng tác".

T gạt phắt: "Nếu cần gì thì họ đến gặp chúng tôi và đề đạt nguyện vọng, chúng tôi không việc gì phải đi tìm họ".

Lại thêm một điều bất ngờ nữa.

Lời nói gay gắt, sỗ sàng, khiếm nhã khiến tôi hơi sững, bực mình, nhưng vẫn ôn tồn: "Kháng chiến chắc hẳn thiếu người, cần nhiều nhân tài kháng chiến và kiến quốc, tỉnh nào, cơ quan nào chẳng thế. Chẳng lẽ Vĩnh Yên là một ngoại lệ? Nếu thật thế, tôi xin rút ý kiến. Cũng xin nói thêm, anh thử nghĩ xem, người lạ tự động đi tìm địa chỉ bí mật của ủy ban trong hoàn cảnh hiện nay liệu có dễ không? Chưa chắc có ai dám mạo hiểm làm điều đó, 78nếu ngu ngơ, chưa chừng còn bị nghi là gián điệp, Việt gian, bị tóm cổ để điều tra, nguy hiểm quá chứ!"

- Anh gợi ý chúng tôi tìm kiếm trí thức chứ gì? Tôi biết họ rồi. Ưu điểm của họ là có kiến thức, họ được đào tạo bài bản nhưng họ cũng có khối khuyết tật. Kiến thức của họ phần lớn là kiến thức sách vở, họ rất thiếu kinh nghiệm thực tiển, nhưng thừa kiêu ngạo, coi thường những người học vấn kém họ. Họ tiêu biểu cho tầng lớp tiểu tư sản, bản chất bấp bênh, dễ dao động, lùi bước trước những tình thế hiểm nguy. Ta có thể tin tưởng những con người như thế không?

T đã bộc lộ quan điểm chính trị và cách nhìn người của mình. Tệ hại là anh ta chĩa thẳng mũi nhọn vào tôi. Tôi tự biết và chẳng lý gì không tự nhận là trí thức, và chẳng biết từ lúc nào và ai đã dán cho tôi nhãn hiệu tiểu tư sản. Chẳng sao, tôi tự hào là trí thức, là trí thức tiểu tư sản, hay tiểu tư sản trí thức cũng thế thôi. Tôi cảm thấy bị anh ta xúc phạm, không biết vô tình hay cố ý. Cũng vậy cả thôi. Tôi tức giận:

- Trước đây, trong thời kỳ công khai và bí mật, tôi có nhiệm vụ tuyên truyền vận động học sinh, sinh viên, trí thức, nên chắc chắn tôi hiểu về người trí thức hơn anh. Đúng, trí thức có nhiều khiếm khuyết, nhưng đến mức trầm trọng như anh nói cũng chỉ ở một số người, không phải ai cũng vậy, không nên vơ đũa cả nắm. Ở đây, ta đụng đến một vấn đề triết học. Khi ta nói công, nông là những lực lượng cơ bản của cách mạng là nói về công, 79nông với tính cách giai cấp. Mà ngay ở cấp độ này, có phải giai cấp công nhân và nông dân ở nước ta không có khuyết điểm, nhược điểm gì? Đó là nói về giai cấp. Còn nói về những cá thể, những con người cụ thể thì khác. Anh có dám khẳng định mọi người công nhân hay nông dân đều hoàn hảo, không có khuyết điểm gì? Chắc là không thể. Với những người trí thức cũng thế thôi.

Ngay cả những cán bộ cách mạng cũng có thể mắc khuyết điểm trong công tác, trong sinh hoạt. Ví dụ, không nói đâu xa, tính kiêu ngạo chẳng hạn, anh vừa tỏ ra kiêu ngạo ngút trời, khi anh miệt thị cay độc tầng lớp trí thức, không phải thế sao? Phải chăng đó là thói "kiêu ngạo cộng sản"? Lẽ ra, phải gần gũi, giúp đỡ họ một cách khiêm tốn, chân tình để họ tự rèn luyện, tự cải tạo.

Trong lịch sử, ở bất cứ nước nào, bất cứ giai đoạn lịch sử nào, trí thức là tầng lớp tinh hoa của quốc gia dân tộc. Phẩm chất nổi bật của trí thức Việt Nam là lòng yêu nước, rất nhiều trí thức tham gia kháng chiến theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch. Cùng với công, nông, trí thức là lực lượng to lớn, quan trọng của cách mạng...

Mặc dù tức giận, tôi vẫn giữ được bình tĩnh. Nhưng có lẽ giọng tôi có lúc căng thẳng chăng, có lúc tôi chợt thấy Tụy Phương chú ý nhìn tôi, ánh mắt có chút lo ngại. T lặng thinh nghe tôi nói. Khi tôi dứt lời, anh mỉa mai: "Anh nói hùng hồn lắm. Quan điểm chúng ta còn khác nhau, còn phải tranh luận, nhưng thôi, để lúc khác" 80Chia tay nhau vẫn "hữu hảo". Riêng tôi, cơn giận đã tiêu tan, tôi đã nói điều gì phải nói.

Nửa cuối năm 1947, địa bàn hoạt động của tôi lại là Vĩnh Yên. Tôi lại có dịp thỉnh thoảng qua lại, thăm hỏi, chuyện trò với những người bạn mới, nhưng không lần nào gặp lại anh T.

Phải đến những năm gần đây, tôi mới được biết, anh T ra tù trước ngày tổng khởi nghĩa, được cử làm Chủ tịch tỉnh khi kháng chiến bắt đầu (Chủ tịch đầu tiên của Vĩnh Yên sau Cách mạng là Đặng Việt Châu, một người bạn cũ của vợ chồng tôi. Anh ấy chỉ tại vị một thời gian). Khoảng năm 1952, ở Phủ Thủ tướng tôi được dự nghe báo cáo viên người Trung Quốc thuyết trình về tư tưởng Mao Trạch Đông. Phân tích các giai cấp xã hội Trung Quốc, ông nói về trí thức, đại ý như sau: "Trí thức không phải là một giai cấp độc lập, có người là địa chủ, tư sản, tư sản mại bản, tiểu tư sản v. v. Đặc điểm của trí thức là bấp bênh nên cải tạo họ phải dầy công, phải kiên trì, phải lâu dài, có khi phải 30, 40 năm".

Tôi không được đọc văn bản, chỉ nghe thuyết trình như vậy thì biết vậy. Nếu đúng như báo cáo viên nói, thì có điều phải suy nghĩ, đúng - sai? Lúc đó, tôi vừa 30 tuổi, phải đến 60 tuổi, tuổi nghỉ hưu, tôi mới cải tạo xong, vậy là trong thời kỳ sung sức nhất đời người, tôi vẫn chưa thực sự cải tạo theo lập trường, tư tưởng cách mạng. Như thế là trong 30 năm tới, tôi sẽ phục vụ cách mạng với tính 81cách nửa dơi, nửa chuột? Thật đáng sợ, khó tin, và cũng thật khôi hài khi tưởng tượng viễn cảnh hàng vạn, hàng trăm vạn trí thức "nửa dơi nửa chuột" múa may trong các cơ quan Nhà nước, đoàn thể, nhà máy, công trường... Đó là những gì tôi hiểu về tiểu tư sản trong những năm chống Pháp. Thật là sơ lược, thô thiển. Thực ra, tôi cũng không quan tâm nhiều đến chuyện này.

Tôi không nhớ rõ, vào hồi đó có phải khai lý lịch hay không, khai thế nào. Tôi chỉ nhớ việc khai lý lịch vào đầu những năm kháng chiến chống Mỹ, trong cuộc vận động bảo vệ Đảng, sau đó có vài lần khai lại để cập nhật.

Trong bản lý lịch tự thuật, có mục thành phần giai cấp. Theo hướng dẫn của cơ quan thì tôi thuộc tầng lớp tiểu tư sản. Không phải tư sản, địa chủ thì là tiểu tư sản, không thể là gì khác. Đơn giản thế thôi.

Đến mục đào tạo, trình độ, tôi ghi đúng sự thật là "cử nhân Luật". Một đồng chí bảo tôi: "Hệ thống giáo dục của ta không có học vị này. Học vị này là của chủ nghĩa tư bản,

'. Tôi chợt nhớ: Năm học cuối cùng,

của đế quốc, thực dân"

tôi thi trượt 2 môn, được bảo lưu để thi lại vào cuối năm, chưa kịp đến ngày thì nổ ra Cách mạng Tháng Tám. Rất may là Chính phủ tổ chức thi vớt. Tôi được phát bằng có tên mới: "Luật khoa Đại học sĩ, nghe như âm vang của một thời thi cử đã đi vào dĩ vãng! Vậy thì gọi là tốt nghiệp đại học Luật, rõ ràng, đơn giản, không ai bắt bẻ được. Nhưng anh bạn vẫn băn khoăn điều gì đó. Anh chợt vỗ tay 82đốp một cái. Anh phát hiện một khiếm khuyết nữa. "Tại sao lại là Luật? Đầu óc cậu để đâu mà toàn phạm những điều cấm ky? Cậu không biết người ta rất ác cảm với con nhà Luật à? Cậu đang làm về kinh tế phải không? Tại sao không nói là tốt nghiệp trường Đại học Kinh tế, có phải kín kẽ hơn không?"

"Ừ, cũng phải". Tôi ghi theo lời anh bạn chí tình, sành sỏi sự đời. Nhưng tôi vẫn cảm thấy áy náy vì đã khai không đúng sự thật. Thời Pháp thuộc làm gì có Đại học Kinh tế. Định thu lại tờ khai để sửa, thì cơ quan đã gửi đi rồi! Sau đó nhiều năm, khi làm lại bản lý lịch, tôi khai lại đúng sự thật. (Thật ra, nội dung vẫn có một phần đúng. Chương trình cử nhân Luật có học cả Luật và Kinh tế chính trị, nhiều bộ luật thực chất là kinh tế được luật hóa, ví dụ Luật Tài chính).

Tháng 5/1986, tôi nghỉ hưu. Năm 1987, tôi được mời đến cơ quan để nhận Huân chương Độc Lập hạng Nhì do Nhà nước trao tặng. Đây cũng là cơ hội gặp lại đông đủ anh em trong Viện. Kể từ ngày gặp T - Chủ tịch tỉnh Vĩnh Yên, 40 năm đã trôi qua. Tôi phát biểu cảm nghĩ:

1. Đây là huân chương cao quý Nhà nước thưởng cho những đóng góp nhỏ bé của tôi cho Cách mạng trong cuộc đời hoạt động. Có được chút thành tích ấy một phần do nỗ lực bản thân phấn đấu rèn luyện, nhân tố quan trọng, quyết định là sự lãnh đạo, giáo dục của Đảng. Công ơn của Đảng, tôi không bao giờ quên.

83Khi khen thưởng, Đảng khoan dung bỏ qua những khuyết điểm, sai lầm mà thực ra tôi cũng không tránh khỏi. Đó chủ yếu tại tôi chưa tự cải tạo hoàn hảo nhưng công bằng mà nói thì cũng có phần do Đảng. Nên chăng, đối với mỗi người, nên có cả luận công, luận tội. Tôi nhớ một chuyện xảy ra đã lâu, báo chí Trung Quốc đăng tin, Stalin có (bao nhiêu) công, (bao nhiêu) tội. Đối với một lãnh tụ đã như vậy, nên chăng cũng nên như vậy đối với cán bộ cấp thấp.

2. Tôi khai lý lịch thuộc thành phần tiểu tư sản. Nói thật với các đồng chí, đến bây giờ tôi vẫn chưa hiểu tiểu tư sản là gì. Nói đầy đủ, tôi là tiểu tư sản trí thức, tôi tự hào về điều đó. Chính với tư cách ấy mà tôi đã sớm giác ngộ và đã đi trọn con đường cách mạng. Cả thế hệ thanh niên chúng tôi thời ấy đã lên đường với tâm hồn trong sáng tuyệt vời, không gợn mảy may lợi ích riêng tư, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn, vì độc lập, tự do và phục hưng của Tổ quốc và dân tộc. Tôi mãi mãi tự hào về thế hệ ấy. Hòà bình lập lại, tôi trở về Thủ đô. Cải cách Ruộng đất triển khai trên toàn quốc. Một đội cải cách đã về làng Yên Mỹ. Chú Đuốc cho người nhắn tôi đừng về quê lúc này, đợi sóng lặng, gió yên đã. Tôi chẳng có gì phải sợ mà không dám về, chẳng ai đụng được đến tôi. Tôi vừa đi cải cách về, đã biết đủ chuyện to, chuyện nhỏ, nếu có bất 84công, tôi sẽ kiên quyết can thiệp. Nhưng tôi không muốn làm chú Đuốc lo sợ, nên tuy ấm ức, tôi đành nén đợi.

Bất ngờ, tay đội trưởng Cải cách Ruộng đất là K - tôi mới quen biết trong thời gian cải cách đợt 1 trong đội Túc Duyên. Cũng tình cờ K biết đó là quê tôi, nên thỉnh thoảng đến nhà cho tôi biết tình hình. Sau một thời gian ngắn, K khoe đã phát hiện 3 địa chủ. Theo tôi biết thì quê tôi làm gì có địa chủ, địa chủ mới từ đất chui lên trong thời chiến tranh? K rất tự hào về chiến tích xuất sắc của mình! Tôi thẳng thừng: "Anh sai rồi, tính lại đi!". Anh ta cụt hứng, vặc lại: "Anh đứng về phía nông dân hay địa chủ?'

Tôi không việc gì phải nể nang: "Này, đừng nói lập trường giai cấp với tôi, anh định múa rìu qua mắt thợ? Tôi chỉ khuyên anh thận trọng, và nhất quyết không được dùng bạo lực. Có chí tình tôi mới nói". Anh ta có vẻ trợn. Anh ta đổi đề tài và thái độ. Anh nói, tôi chưa thấy làng nào nghèo khốn, nghèo khổ như làng này. Cả năm chỉ ăn toàn ngô, khoai, chỉ được ăn cơm gạo vào những ngày giỗ, Tết, mà không phải ai cũng được như thế! Nghe nao lòng như xát muối vào gan ruột!

Tôi biết làng tôi nghèo, nhưng nghèo xơ xác kiệt quệ như thế thì tôi chưa hề biết và cũng không thể ngờ! Cả tuổi trẻ mẹ tôi và các bác, các cô chú họ hàng ruột thịt của mẹ đã sống như thế sao? Có thật đúng thế không? Buồn quá, đau quá! Liên hệ với những gì tôi đã biết từ hồi trẻ mới hiểu hết cái nghèo của quê tôi: ngủ không 85màn chống muỗi, mùa đông không chăn bông đắp, toàn đắp chiếu, đi chân đất quanh năm, giường phần nhiều là chõng tre, phần lớn mù chữ, ốm không có thuốc, đến một y tá cũng không có chứ chưa nói tới bác sĩ...

Đó là bức tranh toàn cảnh cuộc sống quê tôi, từ trẻ em đến người già bất kể nam hay nữ. Để kiểm tra lại thông tin của K, tôi hỏi con chị Thanh Trà. Cháu xác nhận thông tin ấy đúng và cung cấp thêm một tư liệu: Yên Mỹ có món ăn đặc sản là cơm bột ngô và tương ngô. Cơm bột: ngô xay thành bột, nấu thành bánh như bánh đúc, ăn quanh năm ngày tháng (trừ giỗ, Tết mới có cơm gạo). Nhà khá giả thì ăn cơm mảnh (50% ngô xay và 50% gạo nấu lẫn). Tương làm bằng ngô, nhà nào cũng có một chum ngoài sân thường đặt cạnh cây cau, buộc một mo cau ở thân cây để hứng nước mưa.

K lại từ Yên Mỹ ra gặp tôi. Xã không có địa chủ, lần trước quy nhầm. Một địa chủ được hạ thành phần xuống phú nông. Có một nông dân bị quy kết làm tay sai cho địch, nay đã được minh oan.

Sau đợt đội cải cách tổng kết, K lại ra gặp tôi khoe công. Chính anh ta là người đã phát hiện sai lầm, và cũng chính anh ta đứng ra sửa sai. Anh ta được tuyên dương trước toàn đội đã đạt thành tích xuất sắc. Đúng là một kẻ cơ hội! Một kẻ không biết xấu hổ! Không biết phong trào Cải cách Ruộng đất đã sản sinh ra bao nhiêu kẻ cơ hội, bao nhiêu kẻ ác, bao nhiêu kẻ đạo đức giả, bao nhiêu kẻ không biết xấu hổ là gì...? Tất nhiên, người tốt, 86người trung thực vẫn là số đông, nhưng tiếng nói của họ có bao nhiêu trọng lượng? Và họ có đủ can đảm nói lên sự thật như họ nghĩ và thấy không? "Dám - Không dám" đó là câu hỏi mà mỗi người luôn phải đối mặt trong cuộc đời. "Dám thì chết, không dám thì sống". Đó là Lão Tử nói. Có đúng như vậy không? Tôi sẽ trở lại chuyện này sau. Bất giác nhớ tới một chuyện. Tôi có một bạn đồng nghiệp, họ Hoàng, xin tạm lấy tên họ để gọi anh. Anh là cán bộ cấp vụ ở cơ quan nọ, có người anh tên là Hoàng La, chức trọng quyền cao, luôn khoác vẻ trí thức, mắt sắc như dao, mặt trắng lạnh như tiền. Những câu anh

", mạnh như nhát chém, chớ có

ta nói đều là "đại ngôn",

"phản biện, phản biếc" lôi thôi, kẻo lại phải nghe những câu chối tai, như phun ra từ miệng lưỡi một kẻ lưu manh mạt hạng.

Anh Hoàng kể rằng, có lần Hoàng La tâm sự với anh. Anh ta biết Cải cách Ruộng đất có những cái sai nghiêm trọng, như xử tội oan nhiều người dân vô tội... nhưng anh ta không nói. Hoàng nổi giận mắng La như tát nước vào mặt: "Anh là thằng hèn!". La ôn tồn: "Chú hãy bình tĩnh! Chú thử nghĩ, nếu nói ra được gì, mất gì? Người ta sẽ chụp lên đầu tôi cái mũ: phản đối cuộc cách mạng long trời lở đất của nông dân, chống lại một chủ trương lớn của Đảng, chống Đảng, và chú thừa biết điều gì sẽ xảy ra với tôi. Tôi dại gì mà lên tiếng!" - "Anh giả mù, giả điếc, giả câm, mũ ni che tai. Biết mà không dám nói, chí ít cũng báo cáo với cấp trên trực tiếp của anh. Tại sao câm như hến?"

87"Nói công bằng, Cải cách Ruộng đất đã có kết quả tích cực là tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho nông dân. Nông dân ca ngợi, nhờ Đảng họ đã được đổi đời! Cải cách Ruộng đất thật sự đã là một cuộc cách mạng. Đó là điều không thể phủ nhận. Nhưng nhiều người nghĩ cách mạng là phải đổ máu. Có đổ máu mới là cách mạng. Nói cách mạng có thể diễn ra một cách hoa bình là chủ nghĩa xét lại, cần phải đả phá không thương tiếc; nhiều khả năng đó là luận điệu của những kẻ phản động âm mưu "diễn biến hòà bình". Nhưng tai hại nhất là sự đánh giá của chuyên gia Trung Quốc: "Đảng vẫn là đảng của Đảng Lao động Việt Nam nhưng đã bị những phần tử phản động xâm nhập, khống chế, làm Đảng biến chất". Nói thế mà nghe được? Một số lãnh đạo phản đối nhưng số đông những vị trực tiếp chỉ đạo Cải cách Ruộng đất thì cứ như bị bùa mê, thuốc lú làm cho mê hoặc. Hoặc, cùng một lúc, họ vừa đưa ta vào cõi mê, vừa gây áp lực chính trị, khiến ta ngoan ngoăn nhất nhất làm theo bài bản của họ như những con cừu non.

Những sai lầm đã biến Cải cách Ruộng đất từ một chủ trương đúng đắn đầy tính nhân đạo thành sai lầm gây thiệt hại đến hệ thống chính trị cơ sở, từ tổ chức Đảng, đoàn thể đến chính quyền làm ảnh hưởng đến những giá trị nhân văn truyền thống mà tổ tiên để lại cho ta từ hàng nghìn năm, gây ra oan sai, thảm kịch cho nhiều gia đình... Và hậu quả của những sai lầm ấy còn kéo dài nhiều năm về sau. Anh là kẻ đồng loã trong tất 88cả những hành động phi nhân tính ấy... Và chính vì thế mà anh là thằng hèn, hiểu chưa? Không chỉ là thằng hèn, anh còn là một tên đồng phạm, hiểu chưa? Động cơ sự im lặng của anh là gì? Anh chỉ lo giữ thân, giữ địa vị, quyền lợi.."

Hoàng còn muốn nói nữa, nhưng cơn giận đã trào lên tận cổ, làm anh nghẹn lời. "Thằng hèn" cũng nổi cáu, nhưng chưa biết đối đáp với đứa em ra sao, vì nó điểm huyệt trúng tim đen của y. Y bèn dùng biện pháp phản vệ là cầu viện đến tình cảm gia đình và dùng mưu lược cãi chầy cãi cối: "Này, chú ăn nói cho lễ độ. Chú phải nhớ chú là em tôi. Ừ, tôi là thằng hèn, thì đã sao nào?"

Chú Đuốc nhắn: Đội cải cách đã rút, anh có thể về được rồi. Tôi về quê thăm chú và dì Đuốc, thăm chị Trà, tên đầy đủ là Trần Thị Thanh Trà, một cái tên khá gợi cảm! Chị là con gái của bác cả Cạc, là chị của hai người em trai. Chị lấy chồng tương đối sớm, chồng chị là đội viên du kích của xã, chiến đấu dũng cảm và đã sớm hy sinh trong một trận chống càn, để lại hai con gái còn nhỏ. Bước vào nhà, đập ngay vào mắt tôi là một chiếc chiếu lù lù trên giường tre chiếm gần trọn diện tích một gian nhà bên cạnh bàn thờ. Tôi lật chiếu, cháu bé tỉnh dậy. Đó là cháu gái lớn, đã 12 tuổi. Nó gọi rất to: "Chú Ngọc!" rồi nói liền một mạch rất rành rọt: "Chú cho cháu ra Hà Nội 89Thật lạ, 7-8 năm đã trôi qua mà nó vẫn nhớ tôi. Nó cứ nhắc đi nhắc lại câu đó, như người sắp chết đuối bám riết thanh gỗ trôi nổi. Tôi sờ trán cháu, thấy lòng bàn tay nóng như bị bỏng. Có lẽ cháu sốt đến 39-40 độ! Chị Trà bảo, cháu bị cảm mấy ngày rồi, đã cho uống thuốc mà vẫn không hạ sốt. Ở quê, hễ ốm là người ta cho là bị cảm, chứ chẳng biết đích xác là bệnh gì, chỉ đoán mò, chữa mò! Tôi vốn ít quan tâm tìm hiểu về y học nên không đoán được cháu mắc bệnh gì. Tôi băn khoăn do dự, muốn đưa cháu ra ngay cùng với tôi nhưng dùng dầng chưa biết xoay xở thế nào, nên đành hứa với cháu để về thu xếp một hai hôm nữa sẽ đem cháu ra. Cháu nói: "Cháu mong ra với chú lắm! Chú đừng bỏ cháu nhé!" Tôi chưa làm được gì thì quê nhắn ra, cháu đã mất! Cháu mắc bệnh thương hàn.

với chú đi!".

Cháu mất cha từ tấm bé, thèm có một người thay cha ở bên chăm sóc. Ước mơ của trẻ nhỏ chỉ giản dị có thế mà sao thảm thiết và khó thực hiện vậy. Cho đến bây giờ, tôi vẫn thỉnh thoảng nghe như vẳng lại từ nơi xa thẳm tiếng cầu cứu của cháu. Nếu tôi tháo vát hơn, mạnh mẽ hơn, có thể tôi đã cứu được cháu chăng? Có lẽ tôi đã có một phần lỗi trong chuyện này chăng? Câu hỏi này mỗi khi xuất hiện lại làm tôi day dứt không yên.

Nghèo đói kinh niên cùng với ảnh hưởng của phong trào cách mạng Thủ đô đã sớm nhen nhóm phong trào yêu nước rồi phong trào kháng chiến ở Yên Mỹ. Thời kỳ kháng chiến, Yên Mỹ là một trong chuỗi làng suốt dọc 90sông Hồng có phong trào kháng chiến mạnh, có bộ đội chính quy biệt phái về vùng này, huấn luyện và chỉ huy dân quân du kích. Chú Châu là một cán bộ như thế. Chú có biệt danh là Châu Lùn, ở Trung đoàn Tý Hon Hà Nội. Gần Hà Nội, đường sá thuận lợi mà suốt 9 năm, giặc không lập được một đồn bốt nào, chỉ mở những cuộc càn quét, cướp bóc rồi rút quân.

Tại đây đã diễn ra nhiều cuộc chiến đấu giữa địch và dân quân du kích, nhiều tên địch bị giết, dân quân du kích cũng có nhiều chiến sĩ hy sinh. Thiệt hại lớn nhất là trong một trận càn, đốt làng để trả thù cho hai thằng Tây bị ta giết, phía ta có đến 70 người bị chúng giết ở chỗ 4 cây gạo đầu làng. Từ ngày đó, hàng năm Yên Mỹ có "giỗ trận" (cả làng có giỗ). Người làng cho biết chú Châu đã hy sinh tại làng. Thi hài chú Châu cùng một số chiến sĩ khác đã được quy tập vào nghĩa trang liệt sĩ của làng.

Người nhà dẫn tôi đi thăm nghĩa trang. Nghĩa trang là một miếng đất nhỏ nửa kín, nửa mở kẹp giữa hai bên là hai bức tường gạch mốc meo, giao nhau theo hình thước thợ, một bên là mép đường đi trong xóm, cũng là nơi vào ra nghĩa trang. Còn một bên là mép con đường từ đê vào xóm, nhìn ra bãi tha ma và đê. Có khoảng hơn chục ngôi mộ táng xây gạch trát xi măng đen, nằm rải rác trên ba phía trong đó, có 5 mộ chiến sĩ vô danh. Chỉ nhìn các bia mộ là biết ngay: ngoài đường viền trang trí, bia không có một dòng chữ nào; không tên tuổi, không quê hương bản quán, không chức danh, đơn vị... không gì 91cả! Lẻ tẻ những nắm chân hương còm cõi rải rác. Mặt đất mấp mô, phủ kín một lớp cỏ dày mới được cắt tỉa, đã từ lâu không mang dấu chân người! Hoang tàn, thê lương. Bèo dạt, mây trôi. Lòng người cũng bèo bọt thế sao, buồn rớt nước mắt.

Tôi hỏi mộ chú Châu. Một thoáng ngập ngừng. "Mộ anh Châu đây" - "Chắc không?" - Có vài người nhận ra mộ chú Châu.

Tôi thắp nhang suốt lượt trên những nấm mộ. Đứng trước mộ chú, tôi rì rầm: "Chú Châu ơi, chú và các bạn của chú đã dành trọn tuổi trẻ cho dân tộc, cho đất nước. Các chú có thể tự hào là những người anh hùng, đã cùng hàng vạn hàng triệu anh hùng vô danh hy sinh cho Tổ quốc hồi sinh. Nhân dân ta đời đời tri ân họ! Cầu chúc các chú thanh thản yên nghỉ ngàn thu!"

Tôi rời khỏi nghĩa trang mà lòng nặng trĩu.

Hơn chục năm nay, Yên Mỹ đã có nhiều thay đổi. Nghe nói đường làng rồi sau đó tất tật các đường trong xóm đã được bê tông hóa. Bên rìa con đường làng, hướng sông Hồng, người ta đua nhau đào đất đắp thành nền, xây nhà gạch, lợp ngói rộng rãi khang trang, chẳng mấy chốc con đường làng xưa vốn là đường đất đã thành đường phố lọt giữa hai dãy nhà song song. Những ngôi nhà cũ tường đất và một số nhà tường gỗ theo kiểu kiến trúc truyền thống đang dần được dỡ bỏ để xây nhà gạch và chuẩn bị lên tầng. Hàng quán đủ loại mọc lên như 92nấm sau mưa, kể cả quán bia hơi. Trong cơn lốc đô thị hoa, con đường từ Văn Điển về quê ngoại tôi dài gần hai cây số nay cũng đã thành đường phố, hai bên san sát nhà cao tầng và cửa hàng. Bây giờ về quê viếng mộ mẹ tôi, mộ dì Đuốc... và thăm hỏi bà con họ hàng thuận lợi nhanh chóng hơn trước nhiều.

Mẹ ơi, dưới suối vàng, chắc mẹ cũng vui mừng trước những đổi thay của quê nhà.

Ở RỪNG

Gần suốt những năm kháng chiến chống Pháp 1947- 1954, tôi và Tụy Phương, vợ tôi, cùng sống ở vùng núi rừng Việt Bắc, còn gọi là chiến khu Việt Bắc. Đó là vùng rộng lớn gồm 9 tỉnh từ bắc sông Hồng đến biên giới phía Bắc giữa nước ta và Trung Quốc, trong lòng nó lại hình thành một khu vực gọi là An toàn khu (ATK), hay ATK Việt Bắc, đặt tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. ATK được mệnh danh là Thủ đô kháng chiến, bởi tại đây đóng Tổng hành dinh lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn quốc, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cơ quan đầu não: Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng Tư lệnh, các đoàn thể nhân dân (công đoàn, nông dân, phụ nữ, thanh niên). Vậy là Việt Bắc, ATK là khu địa lý - chính trị - lịch sử đặc thù, đó là căn cứ địa chiến lược có ý nghĩa quyết định trong cuộc chiến tranh nhân dân trường kỳ, gian khổ. Tại đây đã ra đời những quyết sách về chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hoá... nhằm đưa cuộc kháng chiến và 93kiến quốc đi đến thắng lợi, đã phát đi những mệnh lệnh hiệu triệu, động viên lực lượng toàn dân tộc tiến lên làm một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Nơi đây đã tiếp nối, phát huy mạnh mẽ truyền thống đánh giặc giữ nước của cha ông ta, nâng lên tầm cao mới hào khí non sông và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Việt Bắc là một chiến trường lớn của cả nước, gần như không lúc nào ngớt tiếng bom đạn, không nơi này thì nơi khác; các cơ quan phải có biện pháp làm "mù mắt" máy bay địch luôn bay lượn trên bầu trời; quân và dân sẵn sàng chống địch khi chúng tiến công lên. Vào mùa khô, chúng mở những chiến dịch thu đông lớn trên diện rộng nhằm tiêu diệt quân chủ lực và các cơ quan đầu não của ta. Trong những cuộc chiến đấu ác liệt, quân và dân ta trên toàn quốc và trên Việt Bắc nói riêng đã lập những chiến công oanh liệt tiêu diệt sinh lực địch, làm chúng ngày càng suy yếu, khốn quẫn, còn quân ta càng đánh càng mạnh, chuyển dần sang nắm quyền chủ động chiến lược. Tình thế chiến tranh và hình thái chiến tranh "cài răng lược" đặc thù đòi hỏi phải luôn cảnh giác, giữ bí mật nghiêm ngặt, các cơ quan phải quân sự hóa, cơ động, sẵn sàng di chuyển địa điểm... Cán bộ, nhân viên xây dựng và thực hiện nếp sống và tác phong giản dị, gọn nhẹ, nhanh nhẹn, sẵn sàng ứng phó với tình huống bất thường....

Tụy Phương và tôi sống ở Thủ đô từ nhỏ, cho đến lúc kháng chiến chưa được thấy những dãy rừng già trùng 94điệp và quan sát cảnh sống của người dân trên vùng rừng núi. Chỉ đến năm 1947, trong thời gian dừng chân ở Vĩnh Yên trên đường đi tìm liên lạc với cơ quan đang di chuyển lên chiến khu, chúng tôi mới có dịp lần đầu được chứng kiến những cảnh tượng đó khi Tụy Phương bắt được liên lạc với Tổng đoàn Thanh niên và được giao nhiệm vụ lên Phan Lương, đến đồn điền Le Roy De Barre (ta đã tịch thu sau Cách mạng Tháng Tám), nghiên cứu đặt trại tản cư các cháu nhỏ con cán bộ thanh niên. Tôi chưa liên lạc được với cơ quan, bèn đi tháp tùng Tụy Phương.

Chúng tôi rời Me Đồi (huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Yên) từ sáng sớm, theo con đường đất dọc hữu ngạn sông Lô, đạp xe hướng Phan Lương. Trời đổ mưa, đường trơn, mãi quá trưa mới tới nơi.

Bên này sông, nơi chúng tôi ngồi chờ đò, quang cảnh rất khác lạ miền xuôi: một dãy nhà trải dài, y hệt nhau, mái lá, vách phên đan bằng tre nứa, nhà nọ cách nhà kia một khoảnh đất như nhau, không có hàng rào bao quanh, không cây cối và cũng không một bóng người; một cảnh tượng lạ, không giống một xóm làng miền xuôi. Bờ sông trước mặt không có đường mà được viền bởi một dải rừng già hun hút chạy về xuôi. Đồn điền chúng tôi tìm đến nằm bên trong dãy rừng ấy. Ánh mặt trời nhờ nhờ một màu vàng nhạt. Dòng sông trong vắt chảy lững lờ. Mấy người đi trên bờ cúi rạp người, ròng dây kéo một chiếc thuyền đinh đi ngược dòng. Mấy chiếc bè nứa, nhiều chiếc thuyền con êm ả trôi về xuôi. Phong cảnh thật nên thơ, kỳ thú trong tĩnh lặng, thanh bình.

95Chúng tôi sang sông. Đồn điền ở sát bờ sông. Chúng tôi nghỉ đêm tại đây, buối tối tranh thủ trao đổi với cán bộ quản lý để biết qua tình hình. Có một đoàn cán bộ công đoàn đang ở đây, họ cũng đi tìm nơi lập trại tản cư. Hôm sau chúng tôi đi tham quan gần hết buổi sáng rồi ra về. Dọc đường, Tụy Phương hỏi ý kiến tôi. Tôi chưa có ý kiến gì, chưa hình dung được một trại tản cư trẻ em phải hội tụ những điều kiện gì, nên chỉ nói cảm tưởng là ở đây kín đáo yên bình dễ tránh máy bay... Tụy Phương nói: Đặt trại ngay bên bờ sông, lại có con đường rộng rải đá từ đây xuôi xuống Me Đồi và thị xã Vĩnh Yên (như anh em ở đây cho biết), giao thông thủy bộ thuận lợi, đi lại và tiếp tế dễ dàng. Nhưng xét về yêu cầu bảo đảm an toàn tuyệt đối cho các cháu trong điều kiện chiến tranh thì chưa thật yên tâm. Địch chưa đụng tới đây nên còn yên bình nhưng chiến tranh chỉ mới bắt đầu. Nếu địch tiến công lên trên này theo cả đường thủy và đường bộ, lại cho cả máy bay bắn phá thì cô cháu đìu díu, bồng bế nhau đi đâu? Thế là phải chuẩn bị một trại sơ tán dự phòng, khó khăn phức tạp lắm; hơn nữa, biết nó đánh lúc nào? Nghe ầm ầm bom đạn mới cuống cuồng bồng bế nhau ù té chạy thì sao kịp, e khó tránh khỏi thương vong. Tụy Phương kết luận: Không nên tổ chức trại ở đây, cần tìm nơi khác an toàn hơn.

Mùa hè năm 1947, Tụy Phương rời Vĩnh Yên lên Thái Nguyên, lên Bắc Kạn, rồi rời Bắc Kạn vào lúc bình minh, vừa kịp thoát khỏi cuộc nhảy dù của quân Pháp 96xuống thị xã, mở màn trận tiến công lớn lên Việt Bắc bằng cả đường không, đường bộ, đường thuỷ nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta (nhưng cuối cùng đã thất bại). Ba ngày sau, Tụy Phương quay trở lại Vĩnh Yên, đúng một vòng tròn khép kín!

Đầu năm 1948, Tụy Phương trở lên ATK Việt Bắc, về Tổng đoàn Thanh niên, ở đó Tụy Phương được kết nạp vào Đảng, sau đó được chuyển công tác sang Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

Sau khi Tụy Phương rời Thái Nguyên (lần thứ hai), tôi tìm đến xã Ý La, cách thị xã Tuyên Quang khoảng 5km, nơi đóng trụ sở Bộ Kinh tế, để nhận công tác. Qua Việt Trì đến ngã ba Phú Hộ rẽ phải đi Tuyên Quang. Đạp xe bon bon trên con đường nhựa phẳng lý rộng chừng ba mét giữa một khu rừng già dày đặc trải dài suốt từ đó đến chỗ rẽ ra bến Bình Ca, bỗng thấy mát rượi, bỏ lại sau lưng cái nóng hừng hực của mùa hè. Đường vắng tanh, thỉnh thoảng mới gặp một người đi bộ; gióng giả tiếng hót của một loài chim lạ, rất du dương và rất lạ, nghe na ná như "bắt cô trói cột". (Huy Cận đã cảm hứng làm bài thơ Bắt cô trói cột, anh em ở Việt Bắc rất thích). Có cảm tưởng như vừa từ thị thành đô hội lạc vào một thế giới thanh thoát, đầy ắp màu xanh tươi nguyên của cây rừng và những tiếng hót ca tâm tình của chim rừng khắp nơi kéo đến như để đón chào khách lạ.

97Tôi ở Bộ Kinh tế từ mùa hè năm 1947 đến cuối năm 1949. Thời gian ấy tôi chỉ ở ven rừng, có lần đi xuyên qua rừng, chưa phải là thật sự "ở rừng", ở trong rừng, lẫn với cây rừng.

Cảnh ở rừng chỉ diễn ra từ giữa năm 1950 đến cuối thời kỳ kháng chiến chống Pháp (năm 1954), khi tôi lên ATK tìm đến Thủ Tướng Phủ (TTP) nhận công tác mới. Địa điểm 1 - Định Hoá:

Có nhiều ngả đường dẫn vào ATK: hoặc đi ngược sông Lô và sông Gâm, đến Chiêm Hoa, Đầm Hồng rồi đi sâu vào trong; hoặc qua châu Tự Do (tức châu Sơn Dương); hoặc từ Thái Nguyên ngược lên hướng Bắc Kạn đến Quảng Nạp, rẽ trái là đã đặt chân vào ATK. Đây là con đường tôi đã đi một hai lần, nên khá quen thuộc.

Ngay tại Quảng Nạp, có một bãi đất rất rộng, người đi lại tấp nập, cán bộ kháng chiến có, người dân địa phương có, có nhiều cô gái thiểu số mặc áo quần không khác gì các cô gái miền xuôi. Họ đến để nhận tiếp tế hoặc mua gạo, muối, vải hoặc vài loại vật dụng khác tại mấy cửa hàng của nhà nước. Qua bãi này, theo hướng tây đi một quãng đường, bước qua một con suối lổn nhổn những hòn đá lớn, vượt qua núi Hồng và vài quả đồi là đến một khu rừng nằm ở lưng chừng đồi. Đó là địa điểm cơ quan TTP, một xóm người Dao bỏ lại đi đến khu rừng mới phát 98nương làm rẫy. Nơi đây thuộc huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

Đằng sau những lớp cây rừng tạo thành tấm bình phong tự nhiên là mảnh đất rộng xẻ vào lưng đồi, bằng phẳng, vuông vức, ba phía bao bọc bởi phần đồi còn lại, trên đó được dựng lên vài căn nhà nứa lá làm nơi làm việc và sinh hoạt tập thể, nhà ở của cán bộ, nhân viên dựng trên các đồi gần kề. Tôi gặp lại mấy người bạn cũ: Cù Huy Cận, Lê Văn Giạng, Nguyễn Thành Lê.

Chánh Văn phòng Phan Mỹ đi vắng. Cù Huy Cận đi báo cáo với đồng chí Phạm Văn Đồng (anh em ở đây thường gọi đồng chí bằng tên thân mật Anh Tô là Phó Thủ tướng Chính phủ - Thủ tướng là Bác Hồ) rồi ra gặp lại tôi; anh bảo: anh được cử làm Trưởng phòng 4B (tức Phòng Kinh tế) tôi đề nghị anh hưởng lương Đổng lý (ở Bộ Kinh tế, tôi là Phó Đổng lý sự vụ - NXN), anh Tô bảo giữ nguyên lương cũ". Tôi nói: "Tôi mới về, cứ để như cũ là hợp lý và cũng tiện cho tôi hơn. Sau đó một sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ nhiệm tôi làm Thư ký Ban Kinh tế Chính phủ. Thư ký vụ Ban Kinh tế Chính phủ do Phòng 4B đảm nhiệm.

Anh Tô trực tiếp chỉ đạo công tác của Phòng 4B - Thư ký vụ Ban Kinh tế Chính phủ, nên tôi có may mắn được thường xuyên gần và trực tiếp làm việc với Anh. Văn phòng TTP chỉ quản lý Phòng 4B về hành chính và nhân sự. Đây là nơi tập trung thông tin trong cả nước, là nơi ban hành những quyết định về những vấn đề quan 99trọng nhất về kinh tế xã hội, quốc phòng, đối ngoại v.v... Nhờ đó, tôi có thể theo dõi, nắm bắt kịp thời diễn biến tình hình chung trên cả nước, trong đó có tình hình quân sự, để có cơ sở nghiên cứu giải quyết các vấn đề kinh tế. Tôi ở đây vài tháng thì cơ quan chuyển đến địa điểm mới. Từ đó đến 1954, cứ khoảng sáu hay bảy, tám tháng lại di chuyển. Tôi không nhớ rành rọt thứ tự các lần di chuyển cũng không nhớ được hết các địa danh, nhưng vẫn nhớ rất rõ một số nơi đã ở. "Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn" (Chế Lan Viên ). Địa điểm 2 - Chiêm Hoá:

Đầu năm 1951, cơ quan chuyển đến một địa điểm thuộc địa phận huyện Chiêm Hóá, tỉnh Tuyên Quang. Xuất phát từ Định Hóa, chúng tôi đi qua đình Tân Trào với cây đa cổ thụ hàng trăm tuổi, vào đình tạm nghỉ và ngắm cảnh; bốn phía trống hoác, bên trong đình kê nhiều sạp lát bằng những tấm gỗ lim dày, hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Đi tiếp đến bờ sông Lô, bên kia sông là thị xã Tuyên Quang, bên này là một trạm canh nông, một kỹ sư làm việc tại đó. Thời gian rỗi anh trồng thuốc lá bán cho người qua đường, mỗi lần đi qua tôi đều tạt vào mua thuốc lá và chuyện trò chốc lát. Sau đó, theo tả ngạn Lô, Gâm ngược lên Đầm Hồng (Chiêm Hoá). Trường Y Dược kháng chiến đóng tại Quẵng thuộc khu vực này.

Từ Đầm Hồng, một cặp đường sắt khổ hẹp cho xe goong (voies Đecauville) chạy vào Bản Thi dưới chân núi Khe Khao, do người Pháp xây dựng trước đây để chở 100quặng kẽm khai thác tại mỏ Khe Khao ra rồi đưa về nhà máy Quảng Yên chế biến, xuất sang Pháp. Sau Cách mạng Tháng Tám, mỏ kẽm Khe Khao và nhà máy luyện kẽm đã ngừng hoạt động. Khi tôi chuyển đến Chiêm Hóá cũng là lúc Tụy Phương lên Khe Khao, huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn (tháng 3/1951) để xây dựng nhà trẻ nuôi con cán bộ Hội Phụ nữ Trung ương (gọi là Trại Khe Khao). Từ Đầm Hồng đi theo đường goong đến ki-lô-mét 12 rẽ phải, đi một quãng thì gặp một suối lớn giữa hai vách núi dựng đứng, một con suối kỳ lạ, ken dầy những tảng đá khối lô xô, hình thù khác nhau, cạnh nhẫn, dưới chân là dòng nước nông trong suốt chảy. Chúng "mọc" lên như dấu tích một cơn địa chấn, hay do lũ xô dạt tới đây? Từ đâu, từ thuở hồng hoang nào? Cơn lũ nào chuyển vần được những khối đá khổng lồ này hẳn phải có sức mạnh và vận tốc khủng khiếp, và phải bao nhiêu cơn lũ hung dữ ấy, qua bao nhiêu thập kỷ, bao nhiêu thế kỷ để tạo ra con "suối đá" kỳ vĩ và bí ẩn này? Hay đây chỉ đơn giản là kết quả của công trường khai thác đá để mở đường xây dựng đường goòng từ cuối thế kỷ trước, những tảng đá rơi vãi rải rác được bấy xuống con suối đã có từ trước?

Tôi dừng lại một lúc lâu chiêm ngưỡng bức tranh đá hoành tráng do thiên nhiên (hay con người?) tình cờ tạo tác nên, trước khi nhảy từ tảng đá này qua tảng đá khác 101Lê Như Bách đã ở trong ngôi nhà này hơn một tháng từ trước đến sau Tết Nguyên Đán năm Tân Mão (27/1/1951). Ngày Tết chỉ có hai chúng tôi với ông bà chủ nhà người dân tộc, chủ nhà không làm Tết, chúng tôi cũng chẳng có gì mừng năm mới. Ngày mồng một, tôi khẽ hát cho mình tôi nghe vài ca khúc Văn Cao (Thiên Thai), Đặng Thế Phong (Con thuyền không bến), Nguyễn Văn Thương (Đêm đông)... mà lòng sao da diết nhớ Hà Nội, nhớ cây hoa đào ngày xuân, nhớ tiếng pháo giòn giã với xác pháo đỏ tươi... Tôi nhìn ra vườn đảo mắt tìm, chẳng thấy hoa đào, chỉ thấy một cây hoa mai cằn cỗi, đơn côi dưới làn mưa bụi... Lại càng nhớ thương mẹ già và hai đứa con thơ đang ở một nơi xa gần nơi tận cùng của đất Thanh, bao nhiêu núi sông cách trở, tin đi thì có, tin về thì không.

để qua bờ bên kia. Đi tiếp một quãng đường đến chỗ ngoặt trái, xa xa trước mặt có một nhà sàn nhỏ nằm lẻ loi ven rừng, tôi và

Từ chỗ ngoặt nhìn sang phải sẽ thấy một căn nhà nứa lá mới dựng núp bóng cây to trên mảnh đất rộng ven rừng. Sau này chị Cúc vợ anh Tô đến ở dưỡng bệnh tại căn nhà này, có anh Nho, anh em đồng hao với Anh Tô trông nom.

Từ chỗ ngoặt, theo một con đường đèo nhỏ men lưng chừng núi thì tới một xóm nhỏ thuộc huyện Chiêm Hoá. Nơi đây so mặt biển cao hơn nơi ở cũ, mưa nhiều nên ẩm ướt hơn, mùa đông rét hơn, đường xấu, đi lại khó khăn hơn. Đồng chí Phạm Văn Đồng ở riêng trên đỉnh một núi cao. Lên đó phải trèo vài chục bậc, anh em ví von là bắc thang lên trời. Núi này tựa vào hai núi lớn hai bên thành một dải. Một đêm con ngựa của anh Tô bị hổ bắt. Con 102ngựa to là thế mà con hổ lôi được từ sườn núi bên này sang sườn núi kề bên, kéo ngược lên một đoạn rồi mới ăn thịt. Cả cơ quan được ăn thịt ngựa trong mấy ngày liền. Mọi người được nếm thịt ngựa lần đầu và có lẽ cũng là lần cuối cùng trong đời.

Nghe tin có triển lãm hội họa ở Đầm Hồng, triển lãm đầu tiên trong kháng chiến. Tôi và Minh Chi xin phép anh Tô nghỉ hai ngày đi xem. Anh đồng ý và khuyến khích. Chúng tôi đi từ sáng, quá trưa tới nơi. Tôi rất chú ý bức tranh của Văn Cao vẽ một công nhân đang chăm chú đọc báo Cứu quốc. Đêm đó chúng tôi ngủ trong một quán trọ tại Đầm Hồng. Đâu đó từ phía hạ lưu vẳng tới rộn rã tiếng chày giã cốm, thật gần gũi ấm áp. Vậy là sắp tới rằm tháng Tám - Tết Trung Thu (cuối tháng 9 - đầu tháng 10 năm 1951).

Địa điểm 3- Chợ Chu:

Cơ quan TTP rời đến địa điểm mới. Chúng tôi đi ngược con đường cũ, ra Đầm Hồng, rảo bộ một mạch suốt tả ngạn sông Lô, đến chỗ ngoặt trước thị xã Tuyên Quang, rẽ trái, ghé vào trạm canh nông mua thuốc lá sừng bò,

qua Tân Trào rồi đi tiếp lên hướng bắc. Nơi ở mới vẫn là

rừng, nhưng bớt âm u hơn, thoáng hơn, đường sá đi lại

dễ dàng hơn; có dòng suối cạn, chúng tôi ra đó trồng rau

cải xoong (cresson) để tự túc một phần rau xanh, rau lên

rất tốt. Một hôm phòng hành chính thông báo mọi người chuẩn bị ruột tượng, hôm sau đi lĩnh gạo. Tôi lấy một cái

103quần, buộc túm hai ống và lưng quần thành một cái bao to quàng lên hai vai, còn mang được nhiều gạo hơn ruột tượng.

Từ sáng sớm, đoàn người men theo bờ suối cho đến khi gặp một con đường rải đá. Đã lâu lắm mới lại đặt chân lên một con đường như thế này, tôi đi đi lại lại ngắm nhìn. Vệ đường, có nhiều nhà khá to cửa đóng im ỉm, chỉ duy nhất một nhà mở cửa, đó là kho gạo lớn; quang cảnh rất yên tĩnh, thanh bình, không có bóng dáng gì của chiến tranh, thật đáng ngạc nhiên! Cuộc kháng chiến đang trên đà thắng lợi, có vẻ như Việt Bắc đã không còn bóng quân thù. Càng ngạc nhiên hơn khi anh cán bộ phát gạo cho biết đây là Chợ Chu, con đường trước mặt dẫn đến Chợ Đồn và Bản Thi ở chân núi Khe Khao, những địa danh nổi tiếng trong chiến tranh.

Chúng tôi thồ gạo về tới nhà lúc một hai giờ chiều, suy ra cơ quan cách Chợ Chu khoảng 8-10 cây số, trong địa phận tỉnh Bắc Kạn. Tôi đã biết đường lên trại trẻ Khe Khao, vợ tôi và đứa con nhỏ hai tuổi Xuân Như đang ở trên đó.

Địa điểm 4 - Châu Tự Do (Sơn Dương), nửa đầu năm 1952:

Từ sau Chiến dịch Biên giới, địch ngày càng bị động, quẫn bách, ta càng đánh càng mạnh, giành nhiều thắng lợi, không khí phấn khởi, lạc quan, tin tưởng dâng cao, quân và dân náo nức thi đua thực hiện mệnh lệnh chuẩn 104bị tổng phản công. Hào hố chữ y, chữ tờ được san lấp, đường được sửa sang, ô tô bắt đầu chạy... Nhà cửa nơi ở mới khang trang, tiện nghi hơn.

Hè năm 1952, tôi tham gia một đoàn cán bộ Trung ương vào Thanh Hóa, Nghệ An giúp địa phương thực hiện chính sách thuế nông nghiệp mới ban hành. Rời cơ quan, một cảnh tượng hoàn toàn mới lạ đập vào mắt: con đường đất hẹp, gồ ghề, uốn lượn ngoằn ngoèo đã biến mất, thay vào đó là con đường mới rộng thênh thang, rải cấp phối bằng phẳng, trải dài tới cửa ngõ châu Tự Do. Bộ Tài chính đóng ngay tại đây, không lẩn quất trong rừng nữa, bây giờ gánh thêm việc tập trung xe đạp cho cán bộ các cơ quan Trung ương mượn khi đi công tác. Cùng đi với tôi là anh Tuấn ở Văn phòng Trung ương Đảng. Nhân chuyến công tác, tôi có ý định sẽ đón mẹ và hai con nhỏ tản cư ở Thanh Hóá lên Việt Bắc, đứa lớn nay đã 8 tuổi sẽ cùng một số cháu được gửi sang Trung Quốc học.

Cuối năm 1950, tôi đã có lần về đón, nhưng không ngờ lại trắc trở đến thế. Quân địch đang chiếm đóng thị xã Hòà Bình nên để vào Thanh Hóa, từ ATK phải đi bộ theo tả ngạn sông Hồng lên Vũ Ẻn, Phú Thọ, qua sông sang Thanh Sơn, quay ngược lại trên bờ hữu ngạn, đi hết một xóm đồng bào công giáo, phía trước dăm ki-lô-mét là Tu Vũ, do quân Pháp chiếm đóng, là bắt đầu leo rừng. Từ đây phải đi theo liên lạc dẫn đường, mỗi người tự túc gạo và thức ăn đủ cho bảy ngày đi rừng, tự thổi nấu, trường hợp đặc biệt trạm có thể nấu giúp. Thời gian này giá cả 105đang tăng mạnh. Tôi hỏi người bán hàng ở cửa rừng giá gạo, chuối, gà... mới có hai ngày đã cao hơn ATK tới 10- 15%, không khỏi lo lắng cho thị trường Việt Bắc và khu Bốn, nơi tôi sắp đến.

Mỗi ngày đi một trạm chừng hai mươi cây số, gần đúng trưa đến nơi đổi trạm, chiều nghỉ để lấy lại sức đi trạm sau. Gian nan lội suối trèo núi, suối sâu suối cạn, núi thấp núi cao, có lần lên tận đỉnh núi cheo leo một xóm người HMông ẩn trong sương mù, ngọn nguồn những con suối chúng tôi đã lội qua hoặc đang đợi ở phía trước...

Sau bảy ngày lặn lội mới tới Hồi Xuân đầu nguồn sông Mã. Từ đây xuôi thuyền về Yên Định rồi đi bộ đến Quán Lào là nơi mẹ tôi và hai con nhỏ tản cư cùng với bố mẹ vợ và hai người em vợ nhỏ tuổi. Đây là con đường trạm huyết mạch bảo đảm giao thông liên lạc hai chiều giữa Việt Bắc và khu Bốn. Con đường gian nan nhường ấy, mẹ già, con dại vượt qua sao nổi! Đành vậy! Tôi theo đường cũ một mình trở lên Việt Bắc.

Đấy là chuyện buồn mấy năm về trước. Nay tình hình đã thay đổi, Hoà Bình đã được giải phóng. Bây giờ là thong dong xe đạp đường trường, bon nhanh trên đường nhựa qua Hòà Bình, Ninh Bình vào Thanh Hoá. Ở lại một ngày thăm gia đình, rồi tôi vào Nghệ An là nơi đến làm việc với Tỉnh ủy và Ủy ban tỉnh.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, tôi quay lại đón mẹ và con, nhưng rút cục chỉ đèo được đứa con trai lên bằng 106xe đạp. Còn mẹ tôi sẽ tự thu xếp thuê người mang xách đồ dùng đi bộ đưa cháu gái lên sau theo đường và địa chỉ tôi dặn lại.

Tôi đưa con trai về ở với tôi năm bảy ngày rồi đưa cháu lên bệnh viện Quẵng thăm mẹ mới sinh em trai ngày 13/11/1951, sau đó cháu về cơ quan ở với tôi.

Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người
Chiến khu Việt Bắc, mối tình thanh xuân

Các năm 1947-1949, Bộ Kinh tế đóng ở huyện Tam Dương, bên con đường từ cầu Diễn ra bến đò Then, rồi lên huyện Lập Thạch bên con đường từ cầu Bâm ra bến đò Phan Lương. Cán bộ, nhân viên ở phân tán trong nhiều nhà dân nằm rải rác trên các đồi kín đáo nhưng gần đường cái, cũng không xa chợ lắm nên mua thực phẩm và hàng hóa không có gì khó khăn, đi lại rất thuân lợi. Đặc biệt đi xe đạp ở đây rất thích, xe cứ bon bon trên mặt đường đất đỏ lăn tăn sỏi vụn, phẳng nhẫn không khác gì đường cấp phối ta xây dựng mấy năm cuối thời đánh Pháp, đây là một đặc điểm của đường miền trung du (ở Phú Thọ, vùng đồi Bắc Giang cũng vậy).

107Khi tôi lên Vĩnh Yên, Đặng Việt Thanh - tức Đặng Hữu Tiếp (em Đặng Việt Châu) cho tôi một chiếc xe đạp nữ hiệu Sterling tịch thu của phản động. Ở huyện Tam Dương, chiều chiều sau giờ làm việc, tôi ra đường cái trèo lên đồi bên kia đường, vào quán hàng độc nhất trên suốt con đường này, nhâm nhi chén trà nóng, ngắm cảnh, ngó đường xem có gặp người quen chăng trong số khách bộ hành lác đác qua lại. Thế là tôi gặp một ông bạn đưa vợ và con gái từ Phú Thọ về qua đây để trở về thành, có điều kiện chữa bệnh cho bà vợ (bố mẹ vợ Nguyễn Dương Quang).

Lần khác, một người lên đồi vào quán, chúng tôi nhận ra nhau, anh là nhà văn. Anh thông tin về sáng tác văn học nghệ thuật, chúng tôi trao đổi về ý kiến khác nhau chung quanh ca khúc Sông Lô của Văn Cao, lúc đó đang được bàn tán nhiều: có người chê câu nhạc mở đầu cóp "Sông Đanúyp xanh" (Danube Bleu) của J. Strauss, điều này có phần đúng, dù vậy vẫn rất hay.

Thỉnh thoảng tôi cưỡi ngựa xuống Tam Dương, vào một quán bên đường ăn một món rất phổ biến ở Thủ đô: bánh rán nóng nhồi patê (paté chaud). Một lần bất ngờ gặp Bùi Nguyên Cát, bạn học từ thuở trường Thăng Long, nay là Chính trị viên Trung đoàn Thủ đô, Trung đoàn đã oanh liệt đánh địch, ghìm chân chúng trong Hà Nội 60 ngày đêm rồi thực hiện cuộc rút quân huyền thoại qua sông Hồng sang đất Vĩnh Yên này, lính không mất một người, súng không mất một khẩu. Một đơn vị của 108Trung đoàn đang luyện quân ở đây. Anh Cát đưa tôi đi xem mô hình một cái đồn giả định, dựng trên đồi cao, bộ đội đang tập tấn công. Huyện lỵ Tam Dương là nơi tập trung Tỉnh ủy và Ủy ban Hành chính Kháng chiến tỉnh. Tôi năng tới, gặp gỡ Vũ Tuân (cùng vợ là chị Vân) và Hoà - Phó Chủ tịch. Chúng tôi trở thành những người bạn thủy chung từ những ngày đó.

Rời thành phố đi kháng chiến, đối với chúng tôi chỉ đơn giản là chuyển về sống và hoạt động ở vùng nông thôn và đồi núi, chúng tôi thích ứng với hoàn cảnh mới rất mau lẹ, rất tự nhiên, không có gì gọi là gian khổ. Cái khác với thành phố là không có điện, không nước máy, khó tìm được bác sĩ, thuốc men, không phố xá tấp nập đông vui... Cuộc sống thời chiến có những hạn chế, khó khăn, hiểm nguy là điều không tránh khỏi, được dự báo trước và được mọi người chấp nhận, bình tĩnh, nỗ lực vượt qua với niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng.

Khi lên TTP, ở ATK, lối sống tập thể, có kỷ luật chặt chẽ càng được tăng cường. Quan trọng hàng đầu là nghiêm cẩn, tuyệt đối giữ bí mật, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho ATK, đề cao tính tự giác của cán bộ nhân viên, tuyên truyền vận động nhân dân, nhân dân có ý thức bảo mật rất cao.

Trước tiên là bí mật nơi ở. Cán bộ, nhân viên ở tập

thể trong những nhà tre nứa lợp lá do những nhân viên

gọi là "công tác đội" dựng lên trong rừng dưới chân một

cây to, có khi ôm gọn thân cây, núp dưới tán rừng, quanh

109nhà không để hở đất trống, nếu có đất trống thì hằng ngày chặt cành lá rải kín ngụy trang, để tránh máy bay địch phát hiện. Mỗi người tự đào một hố cá nhân vừa để tránh máy bay vừa để cất giữ hồ sơ tài liệu ban ngày, phòng máy bay địch bắn phá. Đây vừa là nơi ở vừa là nơi làm việc. Giường bằng tre nứa, thường là sạp dài dùng cho nhiều người làm chỗ ngủ và bàn làm việc. Riêng cán bộ cấp vụ có giường cá nhân và một bàn làm việc làm bằng tre nứa, được dùng riêng một đèn nhỏ thắp bằng dầu hoa, gọi là đèn Hoa Kỳ (anh em khác, hai người một đèn). Anh em sáng tạo nhiều kiểu đèn phù hợp với hoàn cảnh kháng chiến luôn lưu động: lấy lọ thủy tinh nhỏ đổ dầu vào, nút chặt; dùng vỏ hộp thuốc đánh răng Gibs nhồi bông thấm dầu hoa...; bóng đèn là một lọ thủy tinh hay một ống tiêm cưa hai đầu, ánh sáng lại trong hơn, sáng hơn.

Có tin địch dùng thủ đoạn thả quân nhảy dù ban đêm lùng sục kho tàng, cơ quan để phá hoại, ám sát; nhân viên liền được trang bị mỗi nhà một súng Thompson, tổ chức luân phiên tuần tra ban đêm quanh nhà bất kể mùa hè hay mùa đông.

Việc ăn uống tương đối đầy đủ, cơm gạo đôi khi cũng độn sắn nhưng không bao giờ đứt bữa. Được thế là nhờ công tác tiếp tế được tổ chức tốt, tinh thần trách nhiệm, sự tận tâm và nỗ lực rất lớn của anh em cấp dưỡng. Thử hình dung: Dân cư địa phương xưa nay thường thiếu đói quanh năm ít khi đủ gạo, phải ăn thêm ngô khoai sắn 110có khi còn phải vào rừng đào củ mài, củ nâu đắp đổi qua ngày. Nay bỗng chốc hàng nghìn, hàng vạn con người ùn ùn kéo đến, công nhân viên, quân đội, người tản cư... vừa phải chạy đủ lương thực cho số nhân khẩu mới, vừa phải cứu giúp những người dân địa phương thiếu đói; nhu cầu tăng đột biến, rất lớn và tập trung. Các cơ quan tiếp tế đã nỗ lực rất lớn.

So với khi ở Vĩnh Yên gần dân và gần chợ, thì nay thực phẩm khó khăn hơn, bữa ăn đạm bạc hơn tuy vẫn có thịt kho mặn, thỉnh thoảng có trứng; thiếu nhất là rau tươi, nhiều khi chỉ ăn rau "tàu bay" hái trong rừng. Ở địa điểm 1 có lần cụ Bảy cấp dưỡng ra Quảng Nạp qua suối thấy một con trăn lớn mới nuốt con nai con, bụng trương phình nằm kẹp giữa hai tảng đá bèn gánh về. Cơ quan lần đầu được ăn thịt trăn, trắng như thịt gà nhưng nhạt nhẽo. Lần thứ hai được ăn của lạ là thịt ngựa như đã kể ở địa điểm 2. Mấy năm sau bữa ăn được cải thiện nhờ được cung cấp rau xanh đều đặn, thịt cũng vậy nhờ giải pháp độc đáo của nhà bếp: thứ bảy mổ trâu, cơ quan được bữa ăn tươi rôm rả, lòng trâu, nước xuýt... kéo dài đến chủ nhật. Từ thứ hai mỗi suất được một miếng thịt ướp mặn bằng ba ngón tay, thịt đỏ tươi trông rất ngon lành (đây là bí quyết của cụ Bảy), có người bảo cụ ướp bằng diêm sinh (salpêtre) và một quả trứng vịt.

Có một món ăn rất đặc biệt, không để ăn cho no mà

là ăn chơi, một nét văn hóa đặc trưng lối sống trên ATK,

đó là sắn lùi, sản phẩm của một địa danh và một thời

sẽ không bao giờ lặp lại. Sắn lùi là một niềm trong bao

111nhiêu niềm để nhớ về Việt Bắc một thời bom đạn "Yêu nhau chia củ sắn lùi/ Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng" (Tố Hữu).

Mọi người thực hiện nếp sống quân sự hoa, gọn gàng, trật tự, sẵn sàng cơ động. Hai bộ quần áo vải thay đổi, một áo trấn thủ mùa đông, vài đồ dùng cá nhân, chăn màn, cùng với sổ tay, một hai cuốn sách, vài công văn đang nghiên cứu... Tất cả gia tài nhỏ bé thu gọn đến mức tối thiểu ấy được xếp gọn vào balô đeo trên lưng mỗi khi đi công tác xa, thậm chí cả khi đến cơ quan bạn làm việc dù chỉ một hai ngày để phòng bất trắc. Ai cũng cố gắng giảm nhẹ tối đa khối lượng đè trên lưng.

Tôi mua được một chăn len to màu xanh xám dùng cho lính Pháp, phải xén bớt cho gọn nhẹ... chăn bông, áo bông của Tụy Phương đem từ Hà Nội ra trở thành gánh nặng, đều đem biếu đồng bào địa phương. Mấy thứ phải luôn mang theo là một tấm nilông để che mưa và khi cần bọc balô và buộc kín làm phao bơi qua sông, thêm một sợi dây dù đủ dài để buộc bốn góc màn vào thân cây khi phải ngủ rừng... Tóm lại, nhẹ nhưng phải đủ những thứ tối thiểu bảo đảm cơ động, linh hoạt, như một lãng tử; ấy là chưa kể có khi phải quàng thêm một tượng (bao) gạo đủ ăn dăm bảy ngày đường trên vùng rừng già, núi cao, dân cư thưa vắng.

Đi lại trong ATK không dễ như trên đường đồng bằng, các cơ quan cách xa nhau nên mỗi khi đến làm việc với cơ quan bạn phải đi năm, bảy, có khi đến mười 112kilômét đường rừng, trèo nhiều ngọn đồi, lội qua nhiều suối, vào mùa đông hai chân rét cóng tê dại như bị cưa đứt, không còn nhận ra chân mình nữa. Do vậy mà mọi người đều dùng loại dép không gì thay thế được là dép lốp cao su, kiểu "dép Bình Trị Thiên" có hai dây quai cao su đục xuyên vào đế. Sau Chiến dịch Biên giới, mỗi cán bộ được cấp một đôi giầy vải (Trung Quốc viện trợ), nhưng chỉ dùng trên những con đường bằng phẳng ngoài ATK. Tôi có thói quen hút thuốc lá, biết không tốt mà không bỏ được. Thỉnh thoảng mua được vài lạng thuốc sợi hiếm hoi về chia nhau, lấy một dúm, xé một mẩu giấy pơ luya vê thành điếu. Nguồn chủ yếu là thuốc lá trồng tại chỗ cuộn nhiều lớp thành những bó to như giò lụa ngày tết, gọi là thuốc lá sừng bò, thái ra hút dần.

Điều cảm thấy thiếu thốn nhất là sách báo. Mấy ngày đầu lên chiến khu tôi được đọc "Đôi mắt" của Nam Cao, "Đợi anh về" của Simonov do Tố Hữu dịch sang tiếng Việt, bài thơ Tố Hữu "Tôi ở Vĩnh Yên lên / Anh trên Sơn Cốt xuống / Gặp nhau lưng đèo Nhe...". Sau đó không hiểu tại sao có rất ít sách văn chương. Sách nghiên cứu hầu như không có. May là tôi mang theo cuốn Tư bản, tập 1 của Karl Marx, nên dành nhiều thì giờ nghiền ngẫm, càng đọc càng say mê, thấy vỡ ra nhiều vấn đề tuy chưa hẳn thật thấu đáo sâu sắc. Điều lý thú là, đây là tập duy nhất được xuất bản khi Marx còn sống, lại là bản dịch ra tiếng Pháp đáng tin cậy nhất, do người con rể của ông dịch và đích thân ông hiệu đính.

113Một bài đăng trên một tờ báo xuất bản ở Thanh Hóá mang đầu đề "Nền kinh tế dân chủ mới" của Đặng Việt Châu mở ra cho tôi một nhãn quan mới. Thật ra bài ấy chỉ nêu lại quan điểm được phát triển đầy đủ và hệ thống hơn trong một cuôn sách Trung Quốc mà ít lâu sau Minh Chi tìm được và dịch ra tiếng Việt. Tôi thắp đèn dầu miệt mài đọc thâu đêm. Nó gợi mở những suy nghĩ về nền kinh tế chúng ta sẽ xây dựng trong tương lai.

Hồi đó có người, như anh Lê Văn Hiến đã nghĩ đến kế hoạch hoá kinh tế. Tôi cũng nghĩ như vậy, cho đó là tất yếu, là quy luật như Liên Xô đã làm. Thời Mặt trận Dân chủ, tôi đã đọc Segal: "Kinh tế chính trị học của chủ nghĩa Cộng sản", nội dung mô tả sự vận hành nền kinh tế Liên Xô, nên đã có một ít hiểu biết nhưng còn rất sơ lược và trừu tượng về kế hoạch hóá. Các tư tưởng gia của chủ nghĩa tư bản trước Thế chiến thứ hai phần đông thiên về chiều hướng: cứ để mặc cho diễn biến kinh tế tự do phát triển (laisser-faire); các năm 1938 - 1939 một số người đề xuất khái niệm kinh tế có điều khiển (économie dirigée), nhưng ai điều khiển, điều khiển cái gì, bằng cơ chế gì... thì còn rất mơ hồ. Trên thế giới lúc đó duy nhất có Liên Xô thực hành kinh tế kế hoạch hóá. Ngoài cuốn Tư bản, tôi mang theo cuốn sách Kinh tế Xô viết (Economie soviétique) của C. Bettelheim, giáo sư Sorbonne (Pháp), một nhà khoa học thiện cảm với Liên Xô, nghiên cứu rất cụ thể, khách quan, khoa học những vấn đề mà Nhà nước phải giải quyết trong quá trình xây dựng chủ nghĩa 114xã hội từ sau cách mạng đến trước cuộc chiến tranh thế giới, những cuộc tranh luận lý thuyết và thực tiễn, công tác kế hoạch hóa nền kinh tế. Nói tóm lại là những vấn đề rất cơ bản về phương pháp luận, đồng thời cũng giới thiệu phương pháp và những vấn đề kỹ thuật thao tác, tính toán, so sánh... có tính chất thực hành rất thiết thực. Sau này nó là cuốn tham khảo rất quý và quan trọng đối với tôi, nhưng lúc đó những vấn đề ấy còn quá xa vời, nên tôi không thật chú tâm, chỉ đọc lướt qua nhưng cũng thu nhận được ít nhiều kiến thức dù còn sơ lược về cách làm kế hoạch rất có ích sau này.

Nói chung, nhân dân Việt Bắc rất thiếu báo chí, thiếu thông tin, kể cả về chiến tranh, chiến sự, thường chỉ là truyền miệng. Cơ quan cũng đói thông tin nhưng có khá hơn. Có tờ báo của Đảng. Tôi được làm việc gần anh Tô nên thỉnh thoảng được đọc tờ Entente (tạm dịch Hoà Hợp) Pháp xuất bản ở Hà Nội, chú ý nhiều hơn những tin nội bộ của địch. Có lần chúng đưa tin tổ chức kỷ niệm ngày chết của tên Bouvet (nhớ không chính xác), xảy ra mấy ngày đầu chiến tranh trong Hà Nội. Thằng này là một trong mấy sinh viên Pháp cùng lớp với chúng tôi ở trường Luật, mặt lúc nào cũng vênh vang nhâng nháo vé

đặc sệt đầu óc thực dân đã đến thời mạt vận, hoá ra là

nó đã cầm súng bắn lại ta trong những ngày đầu kháng

chiến trong Thủ đô, thật đáng đời.

Tài liệu quý nhất là bản tin 3TTG chúng tôi được đọc

hằng ngày, do anh Ngô Văn Mạnh biên tập, chỉ gói gọn

115trong một, hai trang đánh máy, chọn lựa, tóm tắt, đúc kết các nguồn tin cập nhật từ các đài quốc tế tiếng Pháp, Anh, Nhật... thành một bản tin tổng hợp đầy đủ về tình hình thế giới, những ý đồ của Pháp, Mỹ, dư luận quốc tế về chiến tranh Đông Dương... Anh Mạnh du học ở Nhật về. Tôi đã đến xem cách anh làm việc. Tôi hình dung anh tốc ký như tôi thường thấy là ghi chép viết tắt hoặc bằng ký hiệu, rất nhanh những gì nghe được. Nhưng không phải thế. Anh đeo ống nghe, đặt trước mặt tờ giấy, cầm bút chì nguệch ngoạc vài nét trên góc trái, góc phải đầu tờ, rồi chuyển sang một góc, nhiều góc khác bất kỳ, rồi quay trở lại những chỗ cũ viết thêm những chữ mới, nét mới...

Tôi chứng kiến tận mắt cách thao tác của anh mà cũng chịu không hiểu những gì anh đã viết. Thì ra bộ não của anh hoạt động như một bộ lọc thông tin từ một hãng nào đó, rồi tiếp đến những hãng khác; còn khi anh chuyển đầu bút từ góc này đến góc khác là bổ sung thông tin theo chủ đề. Từ những tờ ghi chép ấy anh biên tập thành những bản tin súc tích, tổng hợp đầy đủ giúp cấp lãnh đạo các cơ quan Trung ương mở rộng tầm nhìn trên phạm vi thế giới và phán đoán những mưu đồ chiến lược của kẻ thù.

Ngày này qua ngày khác trong suốt những năm kháng chiến, anh thầm lặng cần cù làm một công việc vô danh nhưng vô cùng quan trọng. Tài năng của anh thật hiếm có, công lao của anh thật to lớn. Tất cả những 116anh em của Văn phòng Chính phủ chắc vẫn nhớ tờ 3TTG của anh Mạnh, tôi tin thế, và đó là sự tôn vinh xứng đáng với anh.

Sau đây là đoạn trích từ tập 3 Hồi ký của Lê Ánh, một cán bộ tham gia kháng chiến từ những ngày đầu, biết tường tận về công việc của anh Ngô Văn Mạnh.

"Anh Ngô Văn Mạnh theo anh Đồng ra, tôi cho là một nhân tài. Nghe nói anh là công tử Bạc Liêu, đã du học tại Nhật, biết nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp, Đức, Nhật, Thái... Anh một mình phụ trách đài lấy tin thế giới, gọi tắt là đài 3 TTG, mỗi ngày ra một bản tin bằng tiếng Pháp. Bản tin phản ánh trung thành tin tức thế giới, không thêm bớt hoặc pha màu chính trị nào, chuyên phục vụ các đồng chí lãnh đạo. Mà các đồng chí lãnh đạo chỉ cần có thế.

Tôi thỉnh thoảng được anh cho xem bản tin nên tôi rất thân với anh, cả việc riêng tư vợ con ở miền Nam anh cũng không giấu tôi. Anh đi kháng chiến theo anh Đồng ra Bắc là một hy sinh đặc biệt. Vợ anh là người Việt lai Nhật ở lại miền Nam, có thời gian chị bị điên, sau khi sinh một cháu bé thì khỏi.

Anh chưa biết mặt con, chị biên thư cho anh, không có ảnh con, nhưng thư nào chị cũng gửi ảnh vẽ bàn tay con, bằng cách đặt bàn tay con úp trên mặt giấy, lấy bút vẽ vòng quanh rồi ghi: "Đấy, con của Ba, nó lớn bằng này rồi". Anh tư lự, lặng lẽ, xa xăm... tôi nói chuyện vui cho anh khuây khỏả. Năm1954, hòa bình được lập lại, chị 117tập kết ra Bắc, con đã lớn; ở Hà Nội, chị sinh thêm một cháu gái xinh đẹp giống mẹ như đúc. Ôi, mãn nguyện! Đài 3 TTG hằng ngày ra bản tin mà phương tiện chỉ độc một chiếc radiô cổ lỗ cồng kềnh chạy bằng pin. Anh có hai cần vụ là anh Nhương và Lượm, người dân tộc Thổ quê ở Đồng Ngoã cách Dẫng năm sáu cây số ở thượng nguồn sông Đáy. Anh mày mò xin đâu được một máy Gragous phát điện quay tay. Hai cần vụ thay nhau ngày đêm quay phát điện cho anh thu tin. Sau đó anh kiếm được một khung xe đạp hai chỗ ngồi có hai đĩa líp đặt lên một giá gỗ, mắc xích vào quay tay bằng một líp xe đạp. Anh ngồi lên yên, chân đạp, đeo tai nghe, tay trái vặn núm rađiô tìm đài phát, tay phải dùng bút chì viết tốc ký theo kiểu Nhật, chỉ thấy ngoằn ngoèo tôi không đọc được. Đèn ở đài khi tỏ khi mờ theo nhịp chân đạp. Anh có tài nghe được nhiều tin phát bằng nhiều thứ tiếng vào giờ cao điểm nhiều đài trên thế giới cùng phát trong cùng một thời gian. Cứ thế bản tin 3 TTG ra đều hằng ngày. Ngoài tin chính trị, kinh tế... chúng tôi còn được biết rất sớm tin các cơn bão và các tin đặc biệt khác. Mỗi bản tin có khoảng chục bản, bản cuối cùng anh giữ lại là bản nháp tốc ký bút chì, anh đánh máy đè lên để tiết kiệm giấy. Sau có máy in rôneô, anh nhìn bản tốc ký đánh máy thẳng trên giấy stencil không cần viết nháp.

Sáng kiến vừa đạp vừa lấy tin giải phóng được hai nhân lực, giao cho hai cần vụ việc tăng gia sản xuất, kiếm thức ăn dưới sông, suối để cải thiện bữa ăn hằng ngày.

118Anh sống giản dị chẳng có gì là "công tử công tôn" cả. Về Hà Nội, anh chị đến chơi với với vợ chồng tôi luôn, các con tôi giờ vẫn thường nhắc tới anh.

Anh nói: mình thích vợ chồng cậu vì các cậu biết tự lực cánh sinh". Nay anh đã mất, hình ảnh anh mãi mãi trong tôi'.

Từ những tư liệu này có thể rút ra mấy điều:

1. Anh Ngô Văn Mạnh có thể coi là một điển hình của lớp trí thức yêu nước thời Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến giữ nước. Đó là một thời kỳ đặc biệt của lịch sử, quyết định sự tồn vong của Tổ quốc, nên đòi hỏi ở người dân sẵn sàng hy sinh lợi ích riêng cho nghĩa lớn khi cần thiết.

Anh Ngô Văn Mạnh đã làm như vậy, rất nhiều trí thức đã làm như vậy.

2. Anh là người có tài, theo cái nghĩa anh làm được một việc mà ít người làm được, trước hết trong thao tác ở lĩnh vực chuyên môn, những thao tác đầy trí tuệ và đòi hỏi cường độ trí lực cao, sau nữa là sự kết hợp trí lực và lao động cơ bắp nặng nhọc (cơ lực) rất hiệu quả.

Khi đi công tác bên ngoài ATK cán bộ nhân viên cơ quan đoàn thể thường qua lại hai địa điểm, Vũ En và nhất là Thanh Cù trên đất Phú Thọ, nhiều người gọi là 119Thủ đô kháng chiến. Bất chấp bom rơi đạn lạc vẫn mọc lên nhiều hàng quán, cơm, cà phê, nước trà, bánh trái, quán trọ... người qua lại tấp nập đông vui chuyện trò rôm rả. Có lần tôi và một nhà văn quen thuộc cùng ngủ tại quán, cùng chung giường, bàn luận văn chương đến gần nửa đêm, anh bạn hỏi sao tôi không viết văn, bảo tôi nên viết. Lời gợi ý này, tôi đã vài lần được nghe từ vài người bạn khi còn ở Hà Nội. Nhưng tôi chưa sẵn sàng lao vào nghề này vì sợ không thành công.

Thỉnh thoảng người ta gặp từng đoàn bộ đội nườm nượp hành quân, những đoàn dân công nam nữ xúm nhau đẩy những chiếc xe đạp thồ chất đầy hàng tiếp tế cho mặt trận xa tới hàng chục, hàng trăm ki-lô-mét. Họ vừa đi vừa đẩy vừa rôm rả chuyện trò, cười đùa, vang tiếng hát, điệu hò, vui như đi trẩy hội. Có lẽ dân công là những con người biểu cảm rộn ràng nồng nhiệt nhất trên những chặng đường trường. Sự hào hứng, niềm lạc quan, tin tưởng, tinh thần lao động quên mình, sẵn sàng chấp nhận những khó khăn gian khổ và cả những hy sinh trên đường và ở phía trước nơi gần mặt trận. Dân công chiến trường là một biểu tượng sống động của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Cả một vùng rộng lớn sôi động, lạc quan và tin tưởng vào chiến thắng, đó là Chiến Khu Việt Bắc.

120Trong những năm tôi sống ở Việt Bắc, ATK chưa lần nào bị máy bay địch tấn công. Đó là nhờ hoạt động rất hiệu quả của Ban bảo vệ ATK, tinh thần kỷ luật, cảnh giác, bảo mật của cán bộ nhân viên, đặc biệt quan trọng là sự bảo vệ của nhân dân vốn có truyền thống đánh giặc giữ làng từ chiến tranh du kích trước cách mạng, giàu lòng yêu nước và kính yêu Bác Hồ. Cuộc sống trên ATK yên bình, vẫn không ngừng sôi nổi ở tầng sâu của nó trong nhân viên, dù làm việc tay chân hay trí óc, mọi người đều hăng hái, tích cực, cần mẫn và ngày càng tất bật, hối hả, khẩn trương, cùng nhân dân c nước tiến nhanh, tiến mạnh tới trận đánh cuối cùng của cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc.

Không khí sinh hoạt trong ATK, mặc dù có nhiều hạn chế nhưng không hề tẻ nhạt mà vẫn có nhiều điều vui. Lúc nhàn rỗi anh em vài ba người với nhau kể những chuyến công tác đặc biệt, ly kỳ, nguy hiểm mà họ đã từng trải qua, chuyện gia đình vợ con và tâm sự riêng tư, rồi những điều trải nghiệm, những cảm xúc, suy nghĩ trước những cảnh đời, cảnh người đã từng gặp trong kháng chiến... Ngoài sự chung sức chung lòng trong công việc hằng ngày, những cuộc trao đối tâm tình ấy càng làm anh em hiểu nhau, quý mến, gắn bó với nhau.

Anh Cù Huy Cận đôi khi vui đùa kể chuyện tiếu lâm, như chuyện "dám hay không dám" của nước ngoài:

một bà nằm ngửa trên giường trong bộ y phục của Eva

cho gọi một anh thợ cạo đến, bảo: Anh làm đi - Thưa bà

tôi không dám ạ - Sao lại không, cứ dám đi, mạnh dạn

121lên. Anh thợ cạo được khuyến khích lò dò chuẩn bị làm cái việc "dám" đó theo cách anh ta hiểu, thì bất thình lình bị một cái tát nổ đom đóm mắt. Chỉ tại cái chữ "dám" oái ăm, lắt léo, ỡm ờ ấy nên mới sinh chuyện, mà cũng tại cái anh thợ cạo bất chợt quên bằng cái nghề đích thực của mình!

Công đoàn, chi bộ họp đều hằng tháng. Vài ba lần trong một năm, đoàn kịch Thế Lữ đến diễn cho cán bộ nhân viên và bà con địa phương cùng xem. Điều rất thú vị là nhân dịp Xuân Diệu thỉnh thoảng đến thăm em gái Xuân Như và bạn thơ rất thân thiết Huy Cận, anh em tổ chức những buổi nghe Xuân Diệu bình thơ. Ngoài sáng tác thơ, đây cũng là một tài năng đặc biệt của anh. Thơ của những nhà thơ chuyên và không chuyên lượm lặt và chọn lựa đó đây của anh bộ đội, chị dân công, tờ bích báo... Anh say sưa, lời bình vừa trí tuệ vừa đầy rung động đằm thắm, có sức thu hút, lôi cuốn mạnh mẽ người nghe cùng say sưa với anh. Với tôi, đây là một kỷ niệm trong những kỷ niệm đẹp nhất về thời kháng chiến và về Xuân Diệu. Tôi nói thêm một chút về công đoàn và chi bộ đảng. Họp công đoàn là lúc có mặt đông đủ nhất anh em thuộc các đơn vị thường ở rải rác trên những đồi khác nhau cùng nhau vui vẻ chuyện trò. Tôi dự họp chủ yếu là vì thế, ít chú ý nội dung thường bàn những chuyện sinh hoạt hằng ngày chẳng có gì quan trọng đáng quan tâm, trừ khi có cuộc nói chuyện nào tôi thấy bổ ích. Tối ấy, công đoàn mời anh Lê Văn Chánh, bác sĩ riêng của Bác Hồ, nói về một đề tài y tế không có gì mới nên tôi 122không định đi họp, ở nhà đọc cuốn sách kinh tế của Minh Chi dịch.

Tôi đang miệt mài đọc dưới ánh đèn dầu hoa thì Đào Bá Cự (cử nhân luật trước tôi hai ba khoa, sinh hoạt ở một đơn vị khác của TTP) đi qua phòng tôi để lên hội trường. Anh nhắc, đã đến giờ họp rồi, lên hội trường đi. Tôi bảo, tôi đang đọc một cuốn sách rất hay, như thế có ích hơn họp. Anh ta đế ngay một câu: "Thế quan điểm quần chúng của anh để đâu?" Tôi nổi giận, đứng bật lên và bỗng hét to: "Nói láo! Thế nào là quan điểm quần chúng?". Có lẽ thái độ tôi lúc đó có vẻ dữ dằn lắm nên anh ta hoảng hốt nhảy bừa cả dép lên cái giường nứa ợp ẹp của tôi. Tôi nhận ra ngay sai lầm (nhưng cũng hơi tức cười). Tôi dịu giọng nói: "Anh cứ đi trước đi".

Tôi trải qua một cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt: đọc sách có ích cho công việc nhiều hơn là họp. Nhưng tôi đã không dự kỳ họp trước, lần này là kỳ họp thứ hai kể từ khi tôi đến TTP, nếu tôi lại vắng mặt thì biết đâu chẳng có người hiểu lầm, nghĩ sai về tôi, không có lợi cho sự hòa

hợp, đoàn kết. Tôi bất giác lại thấy bực tức. Chẳng lẽ vì sợ những lời thị phi mà làm một việc vô tích sự? Từ thời học sinh, tôi đinh ninh phải học làm người "quân tử", giữ lương tâm trong sáng, phải có dũng khí bảo vệ những ý

kiến đúng, những việc làm tốt, kiên quyết chống lại áp

lực dù từ dư luận hay cường quyền. Lúc này đây chính

là sự thử thách. Đúng lúc đó, anh Lê Văn Chánh đi qua

phòng tôi, tôi bảo đợi tôi cùng lên hội trường. Anh Chánh

bảo: "Tôi nói kiến thức phổ thông vệ sinh phòng bệnh,

123anh thừa biết rồi, cần gì phải nghe!" Được lời như cởi tấm lòng! Tôi yên tâm quay về bàn đọc tiếp.

Về chi bộ Đảng, Chi bộ chúng tôi là chi bộ ghép gồm đảng viên Phòng 4B và một phòng bạn. Hầu hết cán bộ đều là đảng viên, một số lớn tốt nghiệp đại học, đã kinh qua công tác thực tế, tất cả đều đoàn kết, hợp tác, chân thành, trung thực, không suy bì, ghen tị, xích mích vì lợi ích cá nhân; tự phê bình và phê bình được thực hiện thẳng thắn, nghiêm túc; mặt khác, nhiều khi xuất hiện ý kiến khác nhau trong công tác, nên không tránh khỏi những tranh luận có khi kéo dài, có khi gay gắt, nhưng vẫn trên tinh thần xây dựng.

Đầu mùa hè năm 1953, tôi được cử đi dự lớp chỉnh huấn khóa một (mở sau đợt thí điểm) trong ATK, kéo dài vài tháng. Trước khi tôi đi, chi bộ họp để góp ý kiến giúp đỡ; các đồng chí lần lượt phát biểu rất thẳng thắn chân thành. Đồng chí Tô Công, bí thư chi bộ, tóm tắt và kết luận: "Đồng chí Ngọc là đảng viên tích cực, trung thực, thẳng thắn, cởi mở, nghĩ thế nào nói thế, không vòng vo úp mở, không sợ mất lòng ai. Giữa đồng chí và vài đồng chí khác đã từng có những tranh luận có khi kéo dài, không phải vì mâu thuẫn cá nhân mà chỉ vì ý kiến khác nhau về chủ trương công tác cho nên cuối cùng không trở thành xích mích cá nhân, nội bộ vẫn giữ được đoàn kết. Tranh luận trong Đảng trên vấn đề này hay vấn đề khác là việc bình thường và cần thiết để đi tới thống nhất quan điểm và hành động, cần khuyến khích.

124Nhìn lại những lần tranh luận đã qua, chi bộ nhập định trong phần lớn trường hợp, ý kiến, quan điểm đồng chí Ngọc đúng. Thế tại sao người ta cứ thấy khó chấp nhận? Đó là vì thái độ đồng chí. Không ít lần đồng chí mất bình tĩnh, không giữ được thái độ điềm đạm, hoà nhã thường ngày. Phản ứng có phần gay gắt và nặng lời khiến anh em tự ái. Đồng chí đã nghe mấy đồng chí phát biểu đấy; khi trao đổi, họ biết là đồng chí đúng nhưng họ không chịu thừa nhận ngay mà cứ cãi đã. Tất nhiên như thế là không hay nhưng một phần cũng tại đồng chí Ngọc. Đồng chí Ngọc sống có tình, các đồng chí đã phát biểu ý kiến cũng xuất phát từ chân tình giúp đồng chí trước khi lên đường nhận rõ thêm ưu điểm để phát huy, nhược điểm để khắc phục"

Tôi phải nói thực lòng cuộc họp chi bộ đã làm tôi

cảm động, là sự động viên quan trọng đối với tôi. Tôi

vẫn thường nghĩ, mình nghĩ và hành xử theo lương tâm,

cần gì phải có sự động viên từ bên ngoài. Nhưng bây giờ,

quan điểm của tôi đã thay đổi.

Sau khi biên giới được giải phóng, quan hệ giữa nước

ta với Trung Quốc, Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa

Trung - Đông Âu... phát triển nhanh về nhiều mặt. Anh

Tô giao cho tôi tiếp Leo Figuere, Bí thư Đoàn Thanh niên

của Đảng Cộng sản Pháp để giới thiệu chính sách kháng

125chiến kiến quốc của ta; giới thiệu tôi với Trần Đức Thảo mới từ Pháp trở về nước. Tôi được dự cuộc gặp làm việc của Carmen với Phan Mỹ tại TTP về dự án xây dựng bộ phim "Việt Nam trên đường thắng lợi. Carmen là đạo diễn điện ảnh nổi tiếng của Liên Xô, hai người nói chuyện bằng tiếng Pháp. Cùng đi với Carmen có Phạm Văn Khoa và mấy người khác.

Sau cuộc họp, Khoa hỏi tôi: "Phan Mỹ đấy à, mình nghe tiếng từ lâu, sao nói tiếng Pháp tồi thế?" - "Không tồi đâu, chẳng qua anh ấy không thích uốn lưỡi theo giọng Pháp thôi".

Carmen ở Việt Nam một thời gian khá dài cho đến khi hoàn thành bộ phim, khi trở về nước thì vợ đã lấy chồng khác. Có người nói phụ nữ Nga không chịu đựng sống xa chồng quá lâu, đó là nói trong thời bình hay nói chung cả trong chiến tranh? Đánh giá chung phụ nữ Nga như thế có đúng không, tôi nghi ngờ điều đó. Tôi nhớ bài thơ Simonov, cuốn phim Đàn sếu bay qua... và có xu hướng tin rằng, trừ những hoàn cảnh éo le nào đó, phụ nữ Nga là những người vợ chung thủy. Lại chợt nghĩ tới phụ nữ Việt Nam và phẩm cách cao thượng tuyệt vời của họ ở tấm lòng chung thủy, chưa nói tới bao nhiêu những phẩm chất khác và những hy sinh vô bờ bến mà họ đã chịu đựng trong 30 năm chiến tranh đằng đẵng. Mong rằng sẽ có những tiểu thuyết, những bản trường ca hoành tráng và giàu tính sử thi xứng đáng với tầm vóc phụ nữ Việt Nam.

126Rồi các chuyên gia Trung Quốc lần lượt sang, đứng đầu là đồng chí La Quý Ba. Có chuyên gia về tài chính, ngân hàng, mậu dịch, thuế nông nghiệp, kho thóc...

Công việc ở TTP, các bộ ngày càng dồn dập khẩn trương. Đồng thời sinh hoạt văn hóa bùng lên, phong phú sôi nổi. Sách báo ùn ùn tới, đặc biệt từ Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và cả từ Pháp. Các tạp chí tiếng Pháp "Nền dân chủ mới (Démocratie nouvelle) của Đông Âu có nhiều bài viết về phương pháp giáo dục trẻ em, tôi hết sức quan tâm, chép gửi lên Khe Khao cho Tụy Phương nghiên cứu. Có khá nhiều tác phẩm văn chương kinh điển nổi tiếng của các nhà văn lỗi lạc Pháp (Victor Hugo), Nga (L. Tolstoi, I. Tourgueniev, Dostoiepxki, Simonov..), cả Brazil, Tây Đức v.v... trong bản dịch tiếng Pháp. Sách Pháp, Nga, phần nhiều tôi đã được đọc từ trước, nay là lần thứ hai, thứ ba đọc lại vẫn say mê.

Cù Huy Cận đưa tôi mượn một cuốn nhà văn Brazil kể về cuộc đời Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Brazil, "một quyển thơ bằng văn xuôi", anh nói. Quả thật, đó là một cuốn sử thi lãng mạn, hoành tráng bằng văn xuôi. Cũng Cù Huy Cận cho tôi xem một tiểu thuyết dày cộp của một nhà văn Tây Đức (tôi không nhớ tên) nhan đề Stalingrad, tả sự bại trận thê thảm kinh hoàng của quân Đức, nhìn từ phía quân Đức; đó là một tiểu thuyết rất hay, gây ấn tượng rất mạnh, rất sâu sắc về chiến tranh thế giới thứ hai. Trong các tác phẩm Nga, có lẽ cuốn tiểu thuyết "Sông Đông êm đềm" được đọc nhiều nhất, được bàn luận sôi nổi nhất, tạo ấn tượng sâu đậm nhất.

127Một hiện tượng mới xuất hiện được hưởng ứng rộng rãi, trở thành một phong trào quần chúng, đó là khiêu vũ, tạm gọi là điệu nhảy "sòn la sòn" hai nhịp của từng cặp đôi, một nam một nữ hoặc hai nam hai nữ. Buổi chiều sau giờ làm việc, cán bộ nhân viên kéo nhau ra sân, tay đưa, chân nhảy, miệng bắt nhịp thay cho nhạc đệm. ATK bừng lên một không khí mới rộn ràng, vui tươi, phấn khởi.

Một yếu tố mới khác trong đời sống văn hóá mà cho đến lúc đó ít người dám mơ tưởng là điện ảnh. Những người đầu tiên được xem phim là nhân viên văn phòng Chính phủ; cứ tối thứ bảy là chúng tôi đốt đuốc trèo đồi kéo đến nơi đồng chí La Quý Ba ở để cùng xem phim với đồng chí và nhân viên. Về sau, có đội chuyên nghiệp tổ chức những buổi chiếu phim ngoài trời cho nhân dân địa phương và cán bộ cùng xem vào buổi tối trên thửa ruộng hoang gần cơ quan. Các buổi tối mùa đông, bà con lũ lượt kéo đến, phần đông là phụ nữ từ cụ già đến trẻ em, chưa thấy mặt đã nghe những tiếng ho sù sụ của cụ già, tiếng ho khục khặc của trẻ em từ đầu đến cuối bãi, rồi sau đó hòà lẫn vào tiếng thuyết minh phim từ loa phát ra từ đầu đến cuối buổi. Bà con địa phương còn nghèo quá không đủ áo ấm, trẻ em vẫn phong phanh một áo mỏng mùa hè. Đây có lẽ là lần đầu họ được xem phim! Niềm vui cùng sự háo hức làm họ quên cả cái rét thấu da, cắt thịt của núi rừng đêm đông. Hay đúng hơn là họ gắng chịu đựng như họ đã chịu đựng bao nhiêu hy sinh gian khổ trong những năm chiến tranh du kích tiền khởi nghĩa và trong cuộc 128kháng chiến hiện nay với lòng yêu nước và sự dũng cảm phi thường. Những tiếng ho không dứt! Thật xót xa. Cuộc sống nghèo khổ của họ đã kéo dài hàng thế kỷ. Đó là tội ác của chế độ thực dân, còn ta cũng chưa làm được gì nhiều cho họ. Đất nước vốn đã nghèo lại đang chiến tranh. Đó là món nợ của đất nước đối với họ. Đó là những điều in đậm trong ký ức tôi về thời ATK.

Vậy là từ năm 1945 đến nay, 7 - 8 năm đã trôi qua, bây giờ mới lại được xem phim. Có Bạch Mao Nữ của Trung Quốc, phim Liên Xô như Công phá Beclanh, hai phim Múa trống, Múa kiếm của Triều Tiên... Nhân dân ta rất quý mến Triều Tiên, nhiều người đặt tên con là Việt Triều (con gái út của tôi, một con trai của chị Hà Thị Quế được đặt tên như thế). Từ đây đến hết cuộc kháng chiến, phim ảnh là môt phần trong sinh hoạt văn hoá ở chiến khu Việt Bắc, ít nhất cũng ở ATK.

CHỈNH HUẤN VÀ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

Chỉnh huấn cơ quan và chỉnh huấn trí thức

Theo Biên niên Lịch sử Văn phòng Chính phủ (dự thảo), tập 1 (1945-1954), trang 299:

Trong cuộc họp từ 22 - 24/10/1953, Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo nhiều vấn đề, trong đó có Tổng kết Chỉnh huấn cơ quan và Chỉnh huấn trí thức.

129Lớp Chỉnh huấn trí thức có 157 người thuộc các ngành giáo dục, y tế, canh nông, công chính, tư pháp, kinh tế, trong đó có 102 người trình độ đại học.

Chỉnh huấn cơ quan chia làm 2 trình độ A, B.

A có 1.415 người, trong đó 80% là tiểu tư sản trí thức. B có 965 người.

Hầu hết các khu, tỉnh, huyện đều tổ chức Chỉnh huấn.

Tổng số đã được chỉnh huấn là 17.742 người. Số chưa tham gia chỉ còn 4.372 người. Tỷ lệ tham gia đạt 80,23%. Hội đồng Chính phủ quyết định, sau Chỉnh huấn, tiến hành chỉnh đốn tổ chức. Mỗi Bộ sẽ cử 1/10 số cán bộ, công nhân viên đi tham gia phát động quần chúng đợt 3.

1953: LỚP CHỈNH HUẤN ĐẢNG VIÊN CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG

I. Hai nhiệm vụ chiến lược

Cương lĩnh của Đảng gồm hai nhiệm vụ chiến lược phản đế và phản phong. Đó là quan điểm nhất quán trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng từ khi ra đời đến Cách mạng Tháng Tám 1945 và kháng chiến chống Pháp. Tuy vậy, trong mỗi thời kỳ, Đảng áp dụng chiến thuật và khẩu hiệu khác nhau phù hợp hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của tình thế cách mạng.

130Thời kỳ phong trào dân chủ 1936 - 1939, khẩu hiệu là đòi quyền dân sinh, dân chủ. Năm 1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, chính quyền thực dân đẩy mạnh đàn áp, khủng bố, Đảng rút vào bí mật. Khẩu hiệu là chống đế quốc và phong kiến.

Đầu năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về Pác Bó. Đảng vừa chịu nhiều tổn thất sau thất bại của khởi nghĩa Nam Kỳ. Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ Tám do Nguyễn Ái Quốc chủ trì xác định quan hệ giữa các giai cấp và dân tộc và tuyên bố Giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu. Ban Chấp hành Trung ương quyết định ngừng khẩu hiệu cách mạng điền địa và thành lập mật trận Việt Minh, thực hiện đại đoàn kết dân tộc và động viên mọi người dân chiến đấu chống kẻ thù xâm lược.

Từ 19/12/1946 bắt đầu cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp.

Khoảng năm 1948 - 1949, vấn đề Cải cách Ruộng đất lại được xới lên. Ông B.C.T, lúc ấy là Thứ trưởng Bộ Kinh tế, kiến nghị tiến hành Cải cách Ruộng đất. Một lần, tôi (NXN), lúc đó là Phó Đổng lý sự vụ (phụ trách Văn phòng Thương mại Bộ Kinh tế) theo ông B.C.T đi công tác ở ATK theo đường mòn. Dọc đường, ông B.C.T rẽ vào gặp ông T.C tại gian trong một căn nhà tre núp bóng

cây rừng. Tôi đợi ở gian ngoài cùng một thư ký đang làm

việc. Một lúc sau, ông B.C.T ra về, ông T.C tiễn ra cửa.

131Ông T.C bỗng nói: "Anh T. này, đang mùa hè". Ông B.C.T tỏ vẻ hơi ngạc nhiên: "Ừ, xuân đã qua, thu chưa tới, thế thì sao"?

"Mùa hè dễ sinh bệnh tả, hãy cẩn thận, chớ để bị lây nhiễm".

Đến đây thì ông T. đã hiểu, ông không nói nửa lời, đi thẳng.

Vấn đề chỉ ngã ngũ khi lớp Chỉnh huấn mở năm 1953 trên ATK Việt Bắc, công bố Quyết định của Trung ương Đảng thực hiện Cải cách Ruộng đất.

II. Vấn đề Cải cách Ruộng đất trong lớp Chỉnh huấn (1953)

Mục đích Chỉnh huấn là phổ biến, nghiên cứu, thảo luận đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng về kháng chiến kiến quốc, bảo đảm nhận thức sâu sắc và thống nhất trong toàn Đảng; nâng cao ý chí cách mạng, quyết tâm phấn đấu không nề gian khổ hy sinh, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Nội dung có hai phần:

Nghe phổ biến, thảo luận Báo cáo của Trung ương Đảng: Kiểm điểm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trong thời gian qua, thành tựu, khuyết điểm; chính sách, chủ trương trong tình hình mới. Trong những vấn đề được nêu ra, có vấn đề Cải cách Ruộng đất. Báo cáo nhận định ta có sai lầm chậm đề ra Cải cách Ruộng đất, nay quyết 132định: Phát động quần chúng tiến hành tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho nông dân lao động.

Tôi xin gặp anh Lê Văn Lương, lãnh đạo lớp.

- Theo tôi biết, từ năm 1949, anh B.C.T đã đề xuất với Trung ương sớm thực hiện Cải cách Ruộng đất. Đồng chí Trường Chinh cho là tả khuynh. Ý kiến Tổng Bí thư tất nhiên có trọng lượng rất lớn. Có phải đó là nguyên nhân khiến Trung ương Đảng chậm ban hành Cải cách Ruộng đất và sự chậm trễ này là trách nhiệm của đồng chí Trường Chinh?

- Đó không phải là trách nhiệm của riêng đồng chí Trường Chinh mà là của cả Ban chấp hành Trung ương. Hồi đó nhận thức của Trung ương còn hạn chế.

Sự giải thích của đồng chí Lê Văn Lương thật "thấu tình, đạt lý".

Trên hội trường, khi giải thích về nghị quyết của Trung ương, tính tất yếu của Cải cách Ruộng đất trong thời kỳ kháng chiến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể một câu chuyện, nội dung vắn tắt như sau:

Một chiến sĩ quân đội xin nghỉ phép về nhà thăm mẹ, hết phép không thấy trở lại đơn vị. Anh em rất ngạc nhiên, tất phải có nguyên nhân nghiêm trọng, vì anh là một quân nhân gương mẫu, tính kỷ luật cao, chiến đấu rất dũng cảm. Đơn vị cho người về quê tìm, mới biết nhà anh rất nghèo và neo đơn. Bà mẹ chỉ sinh được hai con 133trai, anh là con cả, người em cũng đã hăng hái nhập ngũ. Bây giờ anh là trụ cột của gia đình, chỗ nương tựa duy nhất của bà mẹ già yếu. Ngoài anh ra, không có ai trông nom những lúc trái nắng trở giời, giúp đỡ bà trong việc đồng áng... Vì thế, sửa được mái nhà tranh dột nát cho mẹ thì đã hết phép, nhưng anh không đành tâm bỏ lại mẹ già thui thủi một mình đối mặt với bệnh tật, đói rét, thiên tai và tai họa chiến tranh luôn rình rập... Đây cũng là tình trạng chung của xóm, của xã...

Phái viên đơn vị thông báo cho anh (và sau đó cho lãnh đạo xã) chính sách mới của Trung ương về Cải cách Ruộng đất để bần cố nông từ nay sẽ làm chủ mảnh đất của mình, đẩy mạnh sản xuất thoát khỏi đói nghèo, đó là cơ hội đổi đời. Sẽ dấy lên một phong trào rộng lớn phát huy mạnh mẽ tình đoàn kết, tương thân tương ái, đẩy mạnh cuộc đấu tranh cách mạng của nông dân lao động. Phái viên cũng tìm gặp, đề nghị các cơ quan, đoàn thể địa phương quan tâm, giúp đỡ bà mẹ đồng chí. Đồng chí yên tâm trở về đơn vị.

Câu chuyện trên chứng tỏ Cải cách Ruộng đất đáp ứng nguyện vọng và lợi ích cơ bản của nông dân, sẽ tạo ra một khí thế mới đẩy mạnh sản xuất, tham gia và phục vụ kháng chiến.

Câu chuyện rất cảm động. Không khó hình dung nội tâm người chiến sĩ quân đội ấy. Anh đã trải qua một sự lựa chọn cực kỳ khó khăn, một cuộc đấu tranh tư tưởng 134gay gắt, quyết liệt, đau xót. Bỏ đơn vị là đào ngũ, trái đạo đức và danh dự, là có tội với quân đội, với nhân dân. Nhưng anh cũng không thể đang tâm bỏ mặc người mẹ già yếu, cô đơn.

Đó là một câu chuyện điển hình về những mất mát, hy sinh thầm lặng, vô cùng to lớn, cả về sinh mệnh và tinh thần, tình cảm không thể nào đong đếm được của nhân dân trong cuộc kháng chiến trường kỳ vô cùng gian khổ thời kỳ ấy, cũng như về lòng yêu nước cao cả của những con người bình thường trong muôn vàn anh hùng vô danh ở tiền tuyến và hậu phương đã cùng sát cánh bên nhau làm nên cuộc chiến thắng thần kỳ của dân tộc. Câu chuyện đậm chất nhân văn, bộc lộ phẩm chất anh hùng của nhân dân ta.

III. Đấu tranh tự phê bình và phê bình

Trên cơ sở báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, mỗi đảng viên tự kiểm điểm việc chấp hành đường lối, chính sách kháng chiến kiến quốc của Đảng; nêu ưu điểm, thành tích và khuyết điểm, thiếu sót, sai lầm, về nhận thức tư tưởng cũng như hành động. Đi đôi với tự phê bình là phê bình. Phê bình phải trên tình đồng chí với tinh thần xây dựng, "trị bệnh cứu người, người nói không có tội, người nghe phải sửa mình". Làm tốt việc này để bảo đảm sự thống nhất tư tưởng trong toàn Đảng, toàn quân, cơ sở để thống nhất hành động, tăng cường đoàn kết, nêu cao ý chí, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, 135đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Đó là mấu chốt và mục tiêu của Chỉnh huấn.

Cố vấn Trung Quốc nêu một ví dụ điển hình. Một đôi thanh niên yêu nhau, cô gái là đoàn viên thanh niên cộng sản, người con trai là đảng viên Quốc dân đảng. Cô gái tự nhận sai lầm về lập trường cách mạng, không có đường nào khác là đoạn tuyệt với anh thanh niên Quốc dân đảng. Nhưng sau đó, cô khóc rũ rượi, giọt ngắn giọt dài, tinh thần suy sụp. Các đồng chí chi bộ giúp cô gái đấu tranh với bản thân.

Cô chưa hoàn toàn tự giác, khóc nghĩa là cô luyến tiếc mối tình tội lỗi. Cứ như thế, hết người này đến người khác phân tích cho cô thấy sai lầm nghiêm trọng của mình. Sau nhiều ngày đấu tranh gian khổ, cuối cùng cô thanh niên cộng sản tự giác quyết tâm đoạn tuyệt với tên phản động Quốc dân đảng.

Bài học ở đây là đấu tranh triệt để, không khoan nhượng, truy kích đến cùng, tiêu diệt đến cùng những tư tưởng, tình cảm sai lầm, tội lỗi, dù chúng len lỏi, ẩn nấp ở ngóc ngách lẩn khuất nào. Cái cách họ phân tích tư tưởng cũng rất ấn tượng, sâu sắc, sắc sảo, tinh tế, có vẻ như họ giỏi phân tích mâu thuẫn, nhạy bén nắm bắt hai mặt đối lập của một hiện tượng, ở đây là hiện tượng tâm lý, tư tưởng, tình cảm. Trong ví dụ trên, nước mắt của cô gái có thể dễ dàng được hiểu là sự hối hận đã không giữ phẩm chất, tư cách của một thanh niên cộng sản; nhưng 136người ta có thể lật ngược lại, đó là sự luyến tiếc quá khứ, có thể lắm chứ!

Không biết có nhiều người chia sẻ ý nghĩ ấy không? Tuy nhiên, thực tiễn tự phê bình và phê bình sau này khiến tôi dè dặt hơn.

Tổ chúng tôi có bốn người, ngoài tôi có anh Nguyễn Văn Biên, cán bộ một cơ quan Trung ương. Một anh nghe nói là Bí thư tỉnh ủy Thái Binh xin tạm gọi là K (sau này, thời chống Mỹ, anh là Bí thư Thành ủy Hải Phòng), một anh là Chủ tịch (hay trong Ban Thường vụ) Mặt trận Liên Việt tỉnh Hưng Yên, tôi không nhớ tên, xin tạm gọi là H. Anh H người thấp, to ngang, dáng đi hơi cúi gập người về phía trước, hai tay khuỳnh ra hai bên, chân vòng kiềng, trông ngang ngang, kềnh càng.

Anh Nguyễn Văn Biên tự kiểm điểm một chuyện hơi vụn vặt. Anh hay tủn mủn về tiền nong, chi li từng đồng với cơ quan nhưng không hề tham ô của công.

Anh H nêu một chuyện tày đình: Hồi đầu kháng chiến, mọi người cảnh giác cao độ với Việt gian, đặc biệt là cơ quan an ninh. Rồi sinh ra hội chứng ám ảnh, nhìn đâu cũng thấy địch, nhìn ai cũng nghi ngờ, anh này chị kia có gì không bình thường, có gì đáng ngờ?... Nghi ngờ là bắt, xét hỏi, tra khảo... Không hiếm vụ bắt nhầm, xử oan. Một lần anh H nhìn thấy một phụ nữ bế con đi trên phố. Tại sao áo quần mẹ con nhà này lại có ba màu như cờ tam tài (cờ Pháp)? Anh báo cho công an, đề nghị bắt giữ tra hỏi. Người phụ nữ và đứa con còn ằm ngửa bị bắt rồi bị giết.

137Một chuyện kinh hoàng như thế mà H nhởn nhơ như không, vừa kể vừa cười. Chỉ cần nghe chuyện thôi đã thấy đau xót, phẫn uất, đằng này chính anh ta lại là đầu mối vụ giết chết cùng một lúc một phụ nữ và đứa con, mà vẫn dửng dưng vô cảm! Tôi thấy nóng mặt, trào lên sự căm phẫn và khinh bỉ tột cùng. Anh ta vừa nói xong, tôi bật đứng dậy, chỉ mặt anh ta, quát to:

- Thế mà anh còn cười được à? Anh giết người vô tội mà nạn nhân lại là một phụ nữ và con nhỏ còn đang bế ẫm. Đồ sát nhân độc ác, tên tội phạm bất lương, hèn hạ, một tên đao phủ, đáng phải ngồi tù chung thân, thậm chí tử hình.

Tôi ngồi phịch xuống giường, chuẩn bị đối phó với những lời chỉ trích, những công thức nhàm chán, đại loại: phê bình phải trên tình đồng chí, tinh thần xây dựng...

Các đồng chí ở các tổ bên cạnh ngừng thảo luận, nhìn về phía chúng tôi. Anh Nguyễn Văn Biên và anh K, hình như cũng bất ngờ về thái độ quyết liệt của tôi, cũng giữ im lặng hồi lâu. Anh H cúi gầm mặt. Cuối cùng anh Nguyễn Văn Biên lên tiếng. Không như tôi nghĩ, anh nghiêm khắc lên án anh H:

- Đồng chí Ngọc phản ứng gay gắt thế là đúng. Đồng chí H cần có thái độ tự phê bình nghiêm túc, cần nhận rõ tính chất nghiêm trọng của tội lỗi mình đã gây ra cho người dân vô tội.

A138nh K cũng phát biểu tương tự và nhấn mạnh thêm: - Đồng chí đáng phải bị kỷ luật rất nặng. Ở đây về, đồng chí phải có trách nhiệm cùng với tổ chức địa phương minh oan cho họ và đền bù cho gia đình họ.

Cuộc tự phê bình - phê bình ở tổ chúng tôi được cấp trên đánh giá là tốt, nghiêm túc và được thông qua. Mỗi người viết báo cáo đầy đủ nộp lên cấp trên. Báo cáo được trình lên Trung ương Đảng và lưu trữ tại Ban Tổ chức Trung ương Đảng.

Một đêm trăng hạ huyền. Cảnh núi rừng bao quanh khu chỉnh huấn huyền ảo, nên thơ, đẹp đến kỳ lạ. Quá nửa đêm về sáng, từ nhà dài chỉ cách nhà chúng tôi khoảng bảy tám mét, bất thình lình vang lên một tiếng hét thất thanh "có máu, có máu"... kéo theo nhiều tiếng la hét và âm thanh chộn rộn, hỗn độn những bước chân chạy gấp, tiếng người va phải nhau í ới, tiếng va đập vào liếp nứa... Như nhiều anh em khác, tôi bừng tỉnh, sửng sốt. Vài người bước ra khỏi nhà hỏi tin. Tôi vốn sợ nhìn thấy máu nên cứ ngồi yên trong nhà.

Sự tình xảy ra ở nhà bên như sau. Một anh dậy đi tiểu, nhờ có ánh trăng mờ lọt vào nhà, chợt nhìn thấy máu chảy lênh láng, hoảng hốt kêu ầm lên "máu, máu" và bỏ chạy ra sân. Sự hoảng sợ lan nhanh như một tác động dây chuyền. Một số người chưa hiểu xảy ra chuyện

139gì, chưa nhìn thấy gì, chỉ nghe có máu chảy là kinh hoảng la lên "cấp cứu, cấp cứu". Một số khác cuống cuồng ù té chạy ra sân nghe ngóng, không dám quay vào nhà.

Chẳng mấy chốc, người ta đã biết nguyên nhân: anh T định tự tử bằng cách dùng dao cứa cổ, may được cấp cứu kịp thời nên không chết. T là một cán bộ quân sự tầm cỡ từ Kiến An đến. Người to cao vạm vỡ, mặt chữ điền, rõ ra tướng nhà võ. Nghe nói, anh trình bày bản kiểm điểm trước tổ nghe khá suôn sẻ. Anh em xúm vào góp ý kiến, nêu câu hỏi, yêu cầu anh trả lời. Anh tự tin trả lời, nghe chừng khá gãy gọn, không ngờ vẫn chưa đủ sức thuyết phục, người ta phát hiện mâu thuẫn trong các câu trả lời của anh. Anh bắt đầu lúng túng. Cứ như thế, trả lời gọi chất vấn, chất vấn đòi trả lời, xoắn vào nhau thành một mớ bùi nhùi, một mê hồn trận khiến anh rối bời, đến mức anh không còn nhớ mình đã nói những gì, cũng không nhớ hết các câu hỏi cử tọa đặt ra cho anh. Đầu óc anh rối loạn. Anh không biết phải làm gì. Anh tuyệt vọng. Anh tìm lối thoát trong cái chết.

Anh không chết và tiếp tục học tập đến hết khóa. Trên hội trường có thông báo về sự kiện này. Tôi không nhớ ban lãnh đạo lớp có nhận định gì không và nhận định như thế nào về hành vi định tự sát của anh. Việc xảy ra đã quá lâu, trí nhớ con người đã mòn, vả chăng điều này bây giờ không còn quan trọng nữa.

Sở dĩ tôi viết về việc tự phê bình - phê bình ở lớp Chỉnh huấn vì nó đánh một dấu mốc trong công tác tư 140tưởng, trong đợt I Cải cách Ruộng đất sắp diễn ra, cũng như sau này. Chợt nhớ sự thanh trừng trong Đảng Cộng sản Liên Xô vào những năm 1937; một loạt tướng lĩnh Hồng quân bị bắt (trong đó có tướng Blucher, Tư lệnh Quân khu Viễn Đông), bị tra hỏi, bị kết án tử hình. Theo như người ta nói, một điều đặc biệt là tất cả những người bị kết án đều "tự giác, thành khẩn" khai báo, nhận tội. Thời ấy, điều này gây một ấn tượng rất mạnh. Nhưng bây giờ nghĩ lại, có lẽ ở đây còn nhiều uẩn khúc.

CHỈNH HUẤN Ở CÁC CƠ QUAN TRUNG ƯƠNG

Ngoài lớp Chỉnh huấn của Trung ương Đảng, các cơ quan Trung ương cũng tổ chức Chỉnh huấn đảng viên của ngành. Một ví dụ là ngành Ngân hàng.

Trong bức thư gửi cho tôi ngày 9 tháng 3 năm 2003, đồng chí Lê Ngọc Giao kể kỷ niệm dưới đây: Đồng chí Lê Ngọc Giao sinh năm 1913 (năm 2003 đã "91 cõi xuân tàn") là chú ruột chị Lê Thị Duyên, vợ anh Nguyễn Dương Quang (từng làm Giám đốc Bệnh viện Việt Đức), là bạn thân của vợ chồng tôi. Sinh năm 1913, cuộc đời "ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh", đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Trong kháng chiến chống Pháp, anh công tác ở ngành Ngân hàng 10 năm 141đến lại lạnh xương sống. Đó là cuộc Chỉnh huấn đảng viên năm 1953. Tôi bị quy 4 tội:

(1950-1960). Đồng chí viết: "Năm 1955, tôi là Chiến sĩ thi đua ngành Ngân hàng. Nhưng ở Ngân hàng, có chuyện tôi nhớ đời, mỗi lần nghĩ

1. Con đại địa chủ (có tiếng, đâu có miếng)

2. Tay sai cho Pháp (từng viết báo tiếng Pháp và làm sếp thư ký cho Pháp)

3. Lấy vợ con quan lại phong kiến (bố vợ làm quan ở Bắc Ninh)

4. Đầu óc nô lệ (biết ngoại ngữ: Pháp, Tàu, Anh)

Tôi phải cách ly viết kiểm thảo.

Có chị bị kết tội phản quốc, chết ngất thẳng cẳng, phải khiêng đi cấp cứu. Sau này, chị ấy làm Giám đốc Nhà máy diêm Cầu Đuống.

Sau sửa sai, tôi vào Ban chi ủy và là Chiến sĩ thi đua ngành Ngân hàng, nhưng vẫn nơm nớp sợ, nếu ở địa phương thì "phăng teo" rồi. Chat échaudé craint l'eau froide"

CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT ĐỢT I - NĂM 1954 - TRÊN CHIẾN KHU VIỆT BẮC TẬP HUẤN

Sau Tết năm 1954 (khoảng tháng 1 - 2/1954), tôi đến địa điểm tập trung cán bộ tham gia Cải cách Ruộng đất đợt I trên chiến khu Việt Bắc, cách thị xã Thái Nguyên khoảng 10km, cách đường cái từ Tuyên Quang sang khoảng 5km. Đó là một đồi cao rất rộng, nhìn từ ngoài 142chỉ thấy một khu rừng rậm rạp cây cổ thụ, nhưng vào bên trong mới thấy nhiều khoảng trống trên đó đã mọc lên san sát những ngôi nhà tường phên tre nứa, mái lợp tre đập dập ken dày, chứ không phải bằng lá gồi như ở khu ATK - nơi tạm trú của học viên - cùng một hội trường lớn, tất cả đều mới xây dựng núp dưới bóng cây. Có cả vài thửa đất trồng màu của người dân địa phương. Đó là nơi sẽ diễn ra lớp tập huấn cán bộ tham gia đợt I cuộc Cải cách Ruộng đất "kinh thiên động địa" sắp được phát động trên chiến khu Việt Bắc.

Chương trình tập huấn được bố cục có lớp lang rất bài bản. Trước khi khai mạc lớp, một đội cải cách thí điểm đã được cử xuống xã. Cải cách Ruộng đất được tiến hành tuần tự theo nhiều bước nối tiếp, kinh nghiệm thành công hay thất bại trong từng bước được gửi về phổ biến ngay trong lớp. Đồng thời, tin thắng lợi của Cải cách Ruộng đất

ở mọi nơi, cùng những thắng lợi trên mặt trận Điện Biên

Phủ cũng được phổ biến cập nhật, luôn tạo nên không khí

phấn khích và tin tưởng vào thắng lợi đang tới gần của

cuộc kháng chiến 9 năm gian khổ, hào hùng.

Lớp học do ông H. Q. V chỉ đạo, có tổ 2-3 chuyên

gia cố vấn Trung Quốc giúp đỡ. Chắc họ là người thiết

kế chương trình, cũng họ phụ trách phần lớn bài giảng

trên lớp. Họ phổ biến kinh nghiệm Trung Quốc, thuyết

trình lý luận Mao Trạch Đông về giai cấp và đấu tranh

giai cấp, mâu thuẫn địch - ta và mâu thuẫn trong nội bộ

nhân dân... nhằm trang bị nhận thức lý luận, xác định,

củng cố lập trường giai cấp, ý chí mạnh mẽ quyết tâm

143đứng về phía nông dân, phát động nông dân vùng lên tiêu diệt giai cấp địa chủ, giành quyền lợi về tay nông dân. Họ kích động tinh thần hừng hực đấu tranh không khoan nhượng, một mất một còn trong cuộc đấu tranh "long trời lở đất" có một không hai này.

Các chuyên gia còn trẻ, nhưng tỏ ra rất có kinh nghiệm truyền đạt, nói rất lưu loát, hùng hồn, hấp dẫn và có sức thuyết phục. Có lẽ đối với số đông là thế chăng, nhưng với tôi thì khác. Tôi vốn dị ứng với mê tín cực đoan, dễ dãi và trung thành với tư duy "hoài nghi có tính khoa học" nên thận trọng, dè dặt hơn, "hằng biết thế, cứ tà tà để xem đã"! Các diễn giả chẳng qua chỉ diễn đi diễn lại một vở tuồng đến thuộc lòng, có gì lạ!

Số học viên có lẽ tới trên trăm người, thuộc mọi thành phần, mọi trình độ, phần lớn là cán bộ, nhân viên cơ quan chính quyền, Đảng, đoàn thể các cấp từ Trung ương, đến tỉnh, huyện, xã, có cả một số quần chúng cơ sở mới được giác ngộ, bồi dưỡng thành cán bộ cải cách. Chính phủ quyết định các cơ quan cử 1/10 cán bộ, nhân viên tham gia đợt này; cũng là cơ hội để tiểu tư sản trí thức cải tạo quan điểm, lập trường giai cấp và cách mạng.

Lớp tập huấn có một số sự kiện đáng chú ý.

1. Đó là những kinh nghiệm của đội thí điểm cải cách đã được cử xuống xã trước ngày khai giảng lớp tập huấn. Đội trưởng là chị L. T. X - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Trung ương.

144Ngay trong bước đầu tiên - bước quyết định - là bắt rễ xâu chuỗi để tạo chỗ tựa vững chắc, đội đã mắc sai lầm. Xã địa bàn hoạt động của đội đã dựng sẵn một cổng chào hoành tráng, để chào đón. Vượt qua cổng chào, đội được một đoàn đại biểu quần áo chỉnh tề, không biết gồm những nhân vật nào, long trọng mời đội vào hội trường dự tiệc trà và đọc lời chúc mừng. Đội vô tư vui vẻ dự tiệc! Đội quá yếu kém về cảnh giác chính trị, một sai lầm nghiêm trọng. Trong thành phần tham gia đón tiếp, có thể có cả địa chủ, phú nông, và chắc chắn phải có người lãnh đạo của Ủy ban Kháng chiến Hành chính xã, của chi bộ Đảng và đại diện các đoàn thể thanh niên, phụ nữ.. Tức là chính những người cần được điều tra, đánh giá về mặt chính trị, xem có đúng là những cán bộ trong sạch, trung thành với cách mạng hay không, hay lại chính là những phần tử phản động len lỏi vào tổ chức mà đội có trách nhiệm phát hiện, vạch mặt và trừng trị? Có gì bảo đảm là đội đã không rơi vào một cái bẫy? Nông dân lao động sẽ nghi ngờ, xa lánh, đội mất chỗ dựa, và có nguy cơ thất bại!

Sai lầm thứ hai ngay sau đó là bị địa chủ lừa. Nhìn

thấy một túp lều rách nát giữa cánh đồng, để đi sâu đi

sát, đội trưởng đích thân đến tận nơi xem xét. Chủ nhân

là một ông già, quần áo rách rưới, vẻ thảm hại, đích thực

là một nông dân nghèo khổ rồi, xứng đáng để bắt rễ.

Không ngờ đó là một địa chủ giả nghèo, giả khổ, đội đã

bắt phải... rễ thối!

145Hai sai lầm tai hại, bần cố nông lảng tránh không tiếp xúc, đội gặp rất nhiều khó khăn để gây dựng lại niềm tin.

Câu chuyện làm tôi lo ngay ngáy. Ngay bước công tác đầu tiên đã có vẻ rất khó khăn. Đã đành phải đề cao cảnh giác, nhưng cái khó là làm thế nào chỉ trong vòng 2-3 ngày phát hiện ai đích thực là bần cố nông nghèo khổ để bắt rễ, xâu chuỗi? Đó thật sự là một cuộc đánh đố, một thách thức không nhỏ đối với đội viên cải cách mới chân ướt chân ráo bước vào một địa bàn mới lạ chưa quen biết. Nhất là với tôi, trước kia chỉ quen vận động sinh viên, trí thức ở thành phố, chưa từng hoạt động ở môi trường nông thôn, nông dân.

2. Đội cải cách thí điểm đã qua bước đấu tố, tức là đã xác định rạch ròi địch - ta, địa chủ, phú nông, bần nông, cố nông và chuẩn bị chia ruộng đất. Lớp tập huấn đã gần đến hồi cuối. Toàn thể học viên được triệu tập lên hội trường nghe bản sơ kết của Đoàn ủy cải cách. Một chuyên gia Trung Quốc đứng lên phát biểu khá dài, cuối cùng kết luận: "Đảng Lao động Việt Nam đã biến thành đảng của địch"

Cả hội trường gần như chết lặng. Thật như trời sập! Rồi nổi lên những tiếng xì xào ào ào như ong vỡ tổ, những tiếng phản đối: "Vô lý, vô lý. Không thể thế được", "Nói liều, võ đoán, chuyên quyền"... Thậm chí còn có học viên đứng lên lớn tiếng phản đối. Học viên tự động kéo nhau rời hội trường, tụ thành nhóm tiếp tục trao đổi. Họ bác bỏ 146thẳng thừng kết luận của chuyên gia Trung Quốc, khôn E ít người tỏ ra bực tức, có người thậm chí còn nặng lời phé phán. Những lời bàn tán sôi nổi tiếp tục râm ran, khi đã về phòng, sau bữa cơm chiều. Đó là cuộc "thu hoạch" kS lạ chưa từng thấy tại lớp học.

Ngày hôm sau, để xoa dịu sự bất bình, ông H. Q. V lên hội trường giải đáp thắc mắc của học viên. Ông nói, đại ý: ý chuyên gia Trung Quốc là Đảng vẫn là Đảng Việt Nam, nhưng các cơ sở Đảng đã bị những phần tử phản động thâm nhập khống chế, làm biến chất.

Lời lẽ có khéo hơn, nhưng thực chất nội dung cốt lõi không có gì khác, nên chẳng thuyết phục được ai. Nhưng đã sắp đến lúc kết thúc lớp học và sắp xếp các đội cải cách để xuất phát, học viên đang náo nức tham gia cuộc đấu tranh giai cấp mới lạ ở nông thôn, nên cũng không còn bụng dạ để kéo dài tranh luận về nhận định của chuyên gia Trung Quốc.

Tuy vậy, sự đánh giá của chuyên gia về thực trạng

của cơ sở Đảng đã vô tình thổi một luồng khí độc hại len

lỏi vào mọi tế bào não bộ mọi người, làm nảy sinh trong

đội viên một kiểu tâm lý vô thức bệnh hoạn quái gở: Cảnh

giác cao độ và nghi ngờ cực đoan bất cứ ai trong tổ chức

chính quyền, Đảng, đoàn thể quần chúng địa phương,

cũng như bất cứ ai mới gặp, chưa biết rõ tung tích thuộc

giai cấp nào, bóc lột hay bị bóc lột... nhìn đâu cũng thấy

kẻ thù, y như bị kẻ thù bao vây... Anh nào yếu bóng vía

khó tránh khỏi bị ám ảnh.

1473. Học viên được tập hợp thành nhiều tổ, mỗi tổ 3-5 người. Học viên nữ ở nhà riêng thì chia người tham gia các tổ nam giới. Tổ tôi có 3 người, anh Bôn, anh Trung đều là người Thanh Hóa, và tôi, một học viên nữ ghép tên là H, có chồng cũng dự Cải cách Ruộng đất đợt này, hai vợ chồng là người Nghệ An.

Hàng ngày tổ lên lớp nghe giảng bài, sau đó về phòng trao đổi thu hoạch. Rồi đến bước học viên tự phê bình và phê bình. Việc tự phê bình và phê bình diễn ra như ở lớp Chỉnh huấn năm 1953. Mọi việc diễn ra suôn sẻ với Trung, một trung nông, tôi và cô H, nhưng với Bôn, cố nông, thì rất nặng nề. Ở quê, anh làm thuê cho một phú nông, được ở ngay trong nhà chủ. Chính điều này gây rắc rối cho anh. Cả tổ viên xoáy vào một nghi vấn:

- Anh có làm tay sai cho phú nông không?

Anh phủ nhận, làm gì có chuyện đó! Họ cho ở nhờ trong nhà để dễ sai bảo. Ngoài việc đồng áng, chủ yếu là cày bừa, anh còn phải làm nhiều việc vặt trong nhà và bất kể việc gì, bất cứ lúc nào theo lệnh chủ. Đó là cái giá anh phải trả... Người nghe chất vấn, anh trả lời. Chất vấn và trả lời, cứ thế kéo dài. Trình độ văn hóa của anh rất hạn chế, nói năng khó khăn. Mỗi lần phát biểu gần như một sự tra tấn. Anh gần như kiệt sức. Cuối cùng, anh im lặng, có lẽ không còn đủ sức hiểu những câu chất vấn và rõ ràng không còn sức suy nghĩ. Và điều gì phải đến trong tình huống ấy đã đến: anh định tự tử! Trước cơn sóng gió nguy hiểm, Đảng ủy quyết định đình chỉ 148việc kiểm điểm anh Bôn. Thật may và kip thời, tránh được một bi kịch có thể coi như một vụ bê bối ảnh hưởng xấu đến uy tín của đợt cải cách.

4. Một hiện tượng bất ngờ, có lẽ ngoài dự đoán của lãnh đạo, là chuyện muôn thuở của nam - nữ. Những nam thanh, nữ tú đến từ tứ xứ chưa hề quen biết nhau, cứ như có tiền duyên gắn bó từ thuở hồng hoang nào, chỉ mới gặp gỡ đã kết bạn thân thiết đến mức không thể thân hơn. Không cần nhiều lời, không để phí thời gian, họ tranh thủ "đánh nhanh, thắng nhanh", bập vào nhau, hòà vào nhau như một định mệnh, không cưỡng lại được. Có chỗ nào hơi kín đáo là từng cặp, từng cặp thoa sức "tâm sự".

Hiện tượng lan tràn, đưa tới tranh giành chỗ, nhưng không quyết liệt đến mức dùng bạo lực, chung cục vẫn là đua tranh hòà bình về tốc độ và khôn khéo. Âu cũng là vớt vát được một chút văn hoa ứng xử! Có đội bí quá nhưng không muốn tranh nhau chỗ một cách gay gắt,

đành kéo nhau vào một hố xí! Minh Chi kể với tôi, vừa kể vừa lắc đầu cười mỉm, chắc vì chuyện có vẻ kỳ dị, chứ không hẳn có ý lên án. Ở cơ quan, những việc tương tự

gọi là "hủ hoá" và bị xử lý nghiêm khắc. Nhưng việc tràn

lan như cơn nước lũ thì xử lý sao cho xuể. Ông H. Q.

V lên hội trường phê phán, khuyên nhủ. Mấy lần diễn

thuyết chẳng được gì. Quy luật "âm-dương" vốn trời đã

định "tự thiên thu". Một triết gia (Pascal?) đã nói, người

vừa là thiên thần vừa là thú vật. Người có hai phần, một

149phần là "con", một phần là "người". Ở đây, lúc này, người ta không làm chủ được mình, đã để mất sự hài hòa giữa phần "con" và phần "người". Phần "con" nổi loạn không được kiềm chế nên lấn át phần "người", vượt quá giới hạn cho phép của đạo đức cá nhân và trật tự, đạo đức xã hội. Lý là thế, nhưng oái ăm là ta đứng trước một tình huống khá phổ biến trong chiến tranh trường kỳ vô cùng ác liệt, mà thủ phạm là thực dân xâm lược gây ra.

Trai chưa vợ hoặc xa vợ lâu ngày, gái cũng ở tình trạng tương tự, hút nhau như nam châm, lại thêm nam đông gấp mấy lần nữ, cho nên việc săn tìm nhau từ hai phái bùng nổ là khó tránh khỏi, có tính chất một hiện tượng, một vấn đề xã hội, tuy cộng đồng không lớn. Cuối cùng tìm ra một biện pháp có thể giảm bớt cơn sốt: "xây đê ngăn lũ", cấp tốc xây nhà hạnh phúc cho các đôi vợ chồng cùng có mặt tại lớp tập huấn. Một khu nhà lá nhiều phòng nhỏ đủ chỗ cho một cặp vợ chồng tâm sự trong một giờ, mỗi cặp được phát phiếu ghi ngày, giờ. Nhà hạnh phúc mở cửa từ 8 giờ tối đến 11 giờ đêm.

Nhưng, hễ đẻ ra bất cứ một quy định hành chính nào thì cũng phải cùng một lúc ấn định thể thức thực hiện, kiểm tra... Quả là phức tạp! Biết cặp nào là vợ chồng thật? Phân biệt thật giả thế nào? Phải trình giấy chứng nhận kết hôn? Lấy đâu ra trong hoàn cảnh chiến tranh? Chẳng lẽ cứ phải kè kè trong mình giấy kết hôn khi đi công tác? Có là người "hâm"! Rút cục, phiếu vẫn được phát, thôi thế cũng tốt, không cần quá căn cơ. Căn cơ để 150làm gì? Chả để làm gì cả! Có phát nhầm cũng chẳng sao nó góp phần giảm căng thẳng trong cộng đồng.

Lại nảy sinh vấn đề nan giải khác: tranh chấp phòn hạnh phúc.

Ngoài các đôi vợ chồng chính thức, còn cơ man cặp bồ bịch, và đây là số đông nhất, hơn nữa vì chỉ là những tập hợp phi hình thức, tạm bợ, chớp nhoáng, hợp - tan biến hóá khôn lường; thậm chí có khi chị vợ hay anh chồng nổi hứng muốn thử nghiệm của lạ... bồ bịch lan nhanh như một bệnh dịch. Huấn thị, phê phán, khuyên răn... đều vô hiệu, chỉ còn một cách răn đe là cho phát thanh công khai tên những người vi phạm nội quy. Chính nhờ đó mà người ta biết chuyện nhập nhèm của cô H và Đ. V sẽ kể dưới đây. Song cũng vì thế mà suýt xảy ra xung đột: Anh chồng giận dữ định ra tay dạy cho Đ. V một bài học nhớ đời. May mà được mọi người can ngăn. Thế là đài ngừng phát.

Giành giật được phòng hạnh phúc cũng kỳ công lắm. Rình rập. Chờ sẵn. Một cặp vừa bước ra khỏi phòng, lập

tức một cặp khác nhảy tót vào chiếm chỗ. Cặp vợ chồng

có phiếu đành chịu phép. Đợi và rình, nếu muốn "xâm

chiếm" phòng đã dành cho một cặp khác. Còn nếu chấp

nhận sự đã rồi, thì nán chờ đến 11 giờ đêm, là thả sức

chọn phòng và cứ ở lỳ đó vài tiếng cũng không sao, vì đó

là lúc nhà hạnh phúc đóng cửa.

Cô H sinh hoạt ghép ở tổ tôi cũng có lần "ăn trộm"

kiểu ấy. Ăn trộm mà cũng là "ăn vụng" với Đ. V chưa vợ

151hoặc vợ không cùng dự lớp. H là một cô gái trẻ, xinh xắn, vẻ nhu mì. Các cô ở nhà nữ tỏ ra rất bất bình về sự vô ý vô tứ của vợ chồng cô. Ai lại giữa ban ngày ban mặt, người chồng vào thăm vợ, vợ chồng hôn hít nhau chùn chụt như ở chỗ không người. "Thật trơ trẽn, đáng xấu hồ", các cô bạn cùng phòng bức xúc. Đ. V cũng trẻ, dỏng cao, gương mặt sáng sủa, nghe nói là nhà văn. Sau lần đi thực tế này, anh viết được tiểu thuyết về Cải cách Ruộng đất, tôi chưa có dịp đọc.

Lần đầu tôi gặp Đ. V là trong hội nghị triển khai giảm tô cuối năm 1952 ở Phú Thọ (dăm tháng trước khi Trung ương tổ chức Chỉnh huấn cán bộ, đảng viên năm 1953) do anh Nguyễn Văn Kha - Chánh Văn phòng Trung ương Đảng chỉ đạo. Đ. V và tôi cùng một tổ. Chiều tối, cùng tắm truồng bên bờ giếng. Giếng các tỉnh trung du Việt Bắc có một đặc điểm không thấy ở một nơi nào khác, chỉ cần đào xuống một mét dưới chân đồi là nước dâng đầu, rất trong rất mát. Tôi khen Đ. V sẽ rất hấp dẫn phái nữ, nhờ "quý tử" khá ấn tượng. Cậu ta ngượng vội lấy tay che. Tôi bật cười. "Có gì mà phải che đậy. Cậu đâu phải cô gái cấm cung"

Lần này gặp lại, mới thấy "bản lĩnh" của Đ. V. Cô cậu tất nhiên không có phiếu, nhưng không sao, chỉ cần liều lĩnh một tí, nhanh nhẹn một tí, láu cá một tí, dùng mẹo vặt là "đoạt" phòng của một cặp hợp pháp dễ như bỡn. Thế là "trai anh hùng gặp gái thuyền quyên" thoả chí vẫy vùng.

152Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi trở về Thủ đô, tình cờ gặp lại cô H khi đến một nhà trẻ của thành phố đón con gái. Cô H là cô giáo ở đây. Trong 10 năm sau chiến tranh chống Pháp, miền Bắc tạm có hoa bình, nhưng từ sau 1965 lại đối mặt với chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ. Một buổi sáng, anh Trầm, một cán bộ cao cấp ngành giao thông vận tải (là chồng cô Phan Thị Hiên, cô giáo của Trại Nhi Đồng Trung ương (20 Thụy Khuê - Hà Nội), trên đường vào chiến trường miền Nam công tác, ghé qua nhà thăm tôi. Cùng đi có Đ. V, đây là lần thứ ba chúng tôi gặp nhau. Đ. V theo anh Trầm đi thực tế để trau dồi vốn sống. Ít lâu sau, Trầm trở lại miền Bắc, lần này trở về một mình, không có Đ. V. Hỏi tại sao, Trầm cười:

- Cậu ta nhát. Mới vào được quá nửa đường, thỉnh thoảng gặp cảnh máy bay địch đánh phá ác liệt, ác liệt hơn cuộc chiến tranh chống Pháp nhiều, cậu ta sợ quá, bỏ về.

Lớp tập huấn kết thúc. Học viên được chia vào các đội Cải cách Ruộng đất và chuẩn bị xuất phát. Ba người chúng tôi sáp nhập vào đội phụ trách xã Túc Duyên, ven thị xã Thái Nguyên và được phân công phụ trách xóm Soi. Tổ trưởng là anh Trung, trung nông. Đội trưởng đội Túc Duyên là anh Hoàng Nhật Tân, con ông Hoàng Văn 153Hoan - Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam. Thông báo như thế là đủ, không họp toàn đội. Tổ nào biết tổ ấy, độc lập tác chiến. Đến ngày xuất phát, các tổ sẽ đi riêng, tự tìm đường đến địa bàn hoạt động. Có điều lạ là ở đội Túc Duyên có những trí thức cao cấp ở nước ngoài về nước tham gia kháng chiến (như HT), những cán bộ cao cấp như Chủ tịch, Phó Chủ tịch tỉnh... đều chỉ là những đội viên dưới sự chỉ đạo của tổ trưởng là một cố nông hay bần nông.

Đang công tác thì một đội viên là Phó Chủ tịch tỉnh Phú Thọ bị gọi về tỉnh và đưa xuống xã để ông bà nông dân đấu tố. Tôi đồ các đội khác cũng tổ chức như vậy. Các vị nào có chức vị lãnh đạo cao hay thấp ở địa phương hẳn khó tránh khỏi luôn luôn nơm nớp bất thình lình bị gọi về để nhân dân hỏi tội! Trên mặt là lớp lớp sóng cồn, những mít tinh rầm rộ, những khẩu hiệu hô vang hừng hực khí thế đấu tranh giai cấp trời long, đất lở thì ở bên dưới lớp sóng ngầm hoang mang, lo sợ, bất an trước một câu hỏi thầm kín: sẽ đến lượt ai đây?

Thật là một hình thức tổ chức kỳ lạ, theo những chuẩn mực nào, nguyên tắc nào? Dường như có một quan điểm, một mục đích, thậm chí một ý đồ, một âm mưu đen tối đảo ngược mọi thang giá trị truyền thống đã được thừa hưởng, tiếp nối và phát triển từ thế hệ này đến thế hệ khác trong hàng nghìn năm lịch sử dân tộc.

Cũng xin nói luôn về nguyên tắc sinh hoạt, công tác của tổ cải cách xóm Soi chúng tôi. Tổ trưởng là anh 154Trung, một trung nông người Thanh Hóa. Hai tổ viên là tôi và anh Bôn. Bôn là bần nông, cũng người Thanh Hóa. Anh chưa đọc thông viết thạo chữ Quốc ngữ nên nhường chức tổ trưởng là hợp lý. Còn tôi là một trí thức đi để học tập, rèn luyện, lại thuộc giai cấp tiểu tư sản, lập trường chính trị bấp bênh, không kiên định, được là đội viên Cải cách Ruộng đất là vinh hạnh lắm rồi. Nguyên tắc tổ chức của Đảng là tập trung dân chủ. Nghĩa là không có chuyện họp hành bàn bạc chung. Tổ trưởng nghĩ ra và quyết định mọi việc dưới sự chỉ đạo gần như hàng ngày của đội trưởng đội Túc Duyên, rồi giao cho ai việc gì thì làm việc đó. Tổ trưởng không giao việc, thì đội viên sáng tạo ra việc mà làm, rồi báo cáo sau với tổ trưởng. Mà nếu có lỡ quên không báo cáo cũng không sao.

Cái cách làm việc ấy tạo nên bầu không khí thẳng thắn, thoải mái, tạm coi là hòa hợp, tuy không có gì gắn

bó thân thiết. Có thể coi đó là một kiểu "dân chủ" đặc

sắc. Đội viên ngoài chấp hành chỉ thị của tổ trưởng, tha

hồ phát huy sáng kiến, nghĩ ra việc và dàn xếp công việc

với nhau rất ổn thỏả. Có một điều mọi người luôn nhắc

nhở nhau là luôn tôn trọng, lễ phép, quý mến nhân dân

nên được nhân dân quý mến. Đây là điều vô cùng quan

trọng chuộc lại một phần nào những sai lầm của Cải cách

Ruộng đất và còn để lại trong ký ức bà con những tình

cảm tốt đẹp cho đến sau này khi tôi có dịp gặp lại họ.

Từ ngày khai mạc đến kết thúc tập huấn thấm thoắt

đã ba tháng có lẻ.

155Ba tháng nhiều kỷ niệm không quên. Đôi lúc bâng khuâng nhớ cánh nhớ người, nghĩ miên man. Gặp lại nhiều bạn cũ, Minh Chi, Trần Đức, Thanh Hương... Có thêm nhiều bạn mới, tuy không biết tên, chỉ thoáng thấy mặt vài lần trong lớp, khi luồn rừng đi lĩnh gạo, khi dự tiết mục văn nghệ... Bây giờ cũng chỉ loáng thoáng những bóng hình mờ ảo, nhưng tôi vẫn coi là những người bạn không tên đáng yêu, những con người lạc quan, yêu đời mặc dù có khiếm khuyết nhưng không đáng khắt khe lên án mà nên từ đó rút kinh nghiệm cho một thời thế đã đổi thay. (Tuy vậy, rất đáng trách là hành vi ngoại tình trắng trợn của người vợ hay người chồng trong những cặp đôi đang cùng dự lớp). Khiếm khuyết ấy phải chăng báo hiệu sự mở đầu cuộc cách mạng sex thầm lặng trong xã hội ta?

XÓM SOI

Ngày 1/5/1954, chúng tôi lên đường trực chỉ xóm Soi ven thị xã Thái Nguyên, cách thị xã một cây cầu sắt vài chục mét vắt qua sông Công. Đúng 12 giờ trưa, chúng tôi bước vào xóm. Tôi hồi hộp thấy gai cột sống, chưa biết sẽ bắt chuyện với nông dân như thế nào.

Ngay lối vào xóm, một cổng chào đã dựng sẵn, nhưng vắng ngắt không một bóng người, dường như cán bộ và dân địa phương đã được dặn trước. Chúng tôi chia nhau đi ba hướng săn tìm một nông dân nghèo khổ để bắt rễ. Không nên vào bất cứ nhà nào khi chưa biết chắc thành phần của họ. Rất ít người có mặt trên cả cánh 156đồng. Đi trên đường không gặp ai. Có vẻ như cán bộ và dân rất dè dặt không muốn tỏ thái độ. Không khí không bình thường, hơi nặng nề, ít thân thiện. Tôi đi lại nhiều lần quanh quẩn mãi, quan sát, soi mói các nhà dân vẫn không gặp ai. Nắng gắt, oi bức đến ngạt thở, khát đắng cổ họng, ba lô như thít chặt vai.

Tôi quyết định tiếp tục "trinh sát". Nếu không tìm được rễ thì không khéo phải dạt vào thị xã tìm quán trọ đêm nay vậy.

Xóm Soi có kiểu kiến trúc khá đặc biệt. Hãy hình dung một sân bóng đá lớn. Từ cổng vào là một con đường đất nện đủ rộng để xe bò có thể đi sóng đôi tới đình làng mà vẫn còn chỗ cho người đi bộ. Trước đình là một cái sân rộng lát gạch, chắc là nơi hội họp của dân trong xóm. Đó là ranh giới phía tây của sân. Ba mặt còn lại của sân là ba dãy nhà gạch nối tiếp nhau thành hàng một, mái lợp ngói, hoặc lá, hoặc thanh nứa đập dập; nhiều nhà có sân, một số nhà không có sân, bước ra khỏi cửa là bước thẳng xuống ruộng. Có nhiều nhà khá khang trang, rộng rãi, không khác gì nhà trong phố. "Sân bóng" chính là khu ruộng, chắc là thuộc quyền sở hữu của những gia đình bao quanh. Ruộng xâm xấp nước, cây lúa đã mọc cao khoảng hơn gang tay, có người đang cào cỏ. Trời đã về chiều, không khí đã dịu bớt, khoảng không vẫn vắng lặng, không có cảnh tấp nập lúc hoàng hôn như thường thấy ở miền quê đồng bằng.

Tôi đi vài vòng nữa, cuối cùng cũng thấy một thanh niên đang đứng bổ củi trong sân. Người gầy gò, quần cộc 157rất bẩn thỉu. Nếu lấy nghèo khổ làm chuẩn chọn rễ thì anh đáng được chấm rồi! Tôi bước vào sân rồi lên tiếng chào. Anh ngẩng đầu nhìn tôi, chào lại, vẻ ngượng nghịu. Nếu lấy hiền lành, thật thà làm chuẩn thứ hai, thì anh cũng xứng đáng. Thế là tôi quyết định nghỉ tại nhà anh để cùng anh trò chuyện. Nhẹ cả người. Hằng biết thế. Nếu rễ tốt thì tôi đã mở được cánh cửa để khởi động dây chuyền các bước cải cách.

Trong nhà, có vợ anh nằm trên giường với con nhỏ mới sinh, màn buông sùm sụp, một bà trên dưới 50 tuổi vẻ lanh lợi, chắc là mẹ vợ. Anh tên là Hưng, tính ít nói. Nhà đã cơm nước xong xuôi rồi. Tôi vào thị xã tìm quán ăn bữa tối. Tôi quay về một lúc thì Trung mò đến. Anh chưa bắt được rễ nên đến ngủ nhờ qua đêm. Anh cho biết Bôn cũng đã bắt được rễ.

Hôm sau, từ 4 giờ sáng, Hưng đã dậy, chuẩn bị ăn sáng rồi đi rừng. Tôi cũng dậy sớm và chuẩn bị cùng đi với anh. Trung chia tay với tôi, đi tìm rễ.

Ăn cơm xong, Hưng và tôi lên đường. Qua sông Công, đi độ 3-4 cây số thì đến một khu rừng trên đồi cao. Hưng dùng dao rựa hạ một cây đường kính 15-20 cm, chặt thành những khúc ngắn, chẻ thành củi, buộc thành một gánh đem vào thị xã bán, còn các khúc gỗ nguyên xếp riêng để tôi gánh về nhà.

Mục đích "cùng làm" là để tranh thủ chuyện trò, giác ngộ Hưng về đấu tranh chống địa chủ. Nhưng đặt 158ra mục đích ấy trong trường hợp này là không thực tế, vì khắp nơi chát chúa tiếng chặt cây, ồn ào tiếng gọi nhau í ới, tiếng chuyện trò rôm rả, ai cũng vội vã khẩn trương mong xong sớm, về sớm cho kịp phiên chợ. Vì thế, tôi chỉ đi rừng một chuyến nữa với Hưng rồi thôi... Hưng giới thiệu hai phụ nữ, coi như nghèo khổ nhất xóm.

Một là bà Tình, khoảng 50 tuổi, có một con trai lớn đã ra ở riêng, con trai nhỏ 8 tuổi được đi học trong thị xã; chồng bà làm nghề buôn gỗ, tre, nứa và lâm sản từ miền núi về, đã mất vì chết đuối cách đây 6 năm vào một đêm dông bão mịt mùng, lũ dâng cao ngập tràn sâu vào hai bên bờ sông Lô. Bà ky cóp được một số vốn, góp chung với một người trong họ có nhà ở thị xã, mở một cửa hiệu nhỏ bán tạp hóá. Bà xởi lởi, vui tính, mến khách, dù là khách cũ hay khách mới... Nhà bà lúc nào cũng mở cửa, sẵn sàng đón khách đến chơi...

Thứ hai là bà Dung, độ 40 tuổi cũng là một người góá bụa, có một con trai còn nhỏ, mới lên 6, được đi học trong thị xã. Chồng bà chết vì ngã khi trèo cây ngay cạnh nhà. Bà vừa trồng lúa và rau trên hai sào ruộng, vừa tranh thủ thời gian buôn bán vặt trong thị xã.

Tóm lại, cả hai người đều không phải là nông dân

nghèo khổ bị địa chủ bóc lột. Họ chẳng có quan hệ gì với cuộc đấu tranh đánh đổ địa chủ, cường hào gian ác,

nhiều lắm thì cũng chỉ có thể có cảm tình, ủng hộ cuộc

đấu tranh ấy mà thôi...

159Kể ra cũng không có gì lạ. Bởi chỉ ít lâu sau, tôi nhận ra bản thân Hưng cũng kkông phải nông dân thuần phác, anh cũng nửa nông nửa lâm, phá rừng chặt cây, chẻ thành củi bán cho người dân thị xã.

Dần dà việc ở cùng gia đình Hưng tỏ ra có nhiều bất tiện. Bà mẹ vợ Hưng có vẻ coi thường anh ra mặt. Bà là người lo cơm nước cho cả nhà nên tôi gửi tiền cho bà nhờ thổi nấu giúp. Cùng ăn với cả nhà thì không sao, nhưng không tránh khỏi đôi khi về muộn ngoài ý muốn, tôi áy náy để bà phải chờ đợi để dọn cơm, rồi lại chờ tôi ăn xong, dọn dẹp xong mới đi nghỉ... Nhưng điều phiền phức nhất là đôi khi tôi bất chợt bắt gặp ánh mắt sắc sảo của người vợ trẻ ngồi trên giường với đứa con đang ngủ chăm chăm dõi vào tôi khiến tôi rùng mình. Sau vài lần như vậy, tôi chuyển đến ở nhờ nhà bà Tình. Có lẽ đây là thất bại đầu tiên của tôi ở xóm Soi, nhưng không ảnh hưởng gì đến công tác...

Trung đã tìm được rề... Lần ra mắt đầu tiên của anh được đánh dấu bằng sự việc rất ấn tượng: đó là triệu tập số dân quân du kích của xã Túc Duyên sống tại xóm Soi tập trung trước cửa đình, và trịnh trọng tuyên bố, kể từ lúc này họ được đặt dưới quyền chỉ huy của đội Cải cách Ruộng đất, phải tuyệt đối phục tùng mọi mệnh lệnh của đội. Tôi thầm thán phục anh. Rõ ràng anh có phẩm chất 160của một nhà "lãnh đạo chính trị": muốn giữ vững chính quyền, phải nắm chắc lực lượng vũ trang. Đương nhiên anh không nói gì đến UBND xã, vì UBND phụ thuộc cấp trên (tức là đội Cải cách), nhưng điều đó cũng có nghĩa là từ nay UBND đã bị vô hiệu hoa. (Ông Chủ tịch UBND xã nhà ở xóm Soi tất cũng biết rõ số phận của mình trong tình thế mới). Cũng từ đây, không ai nói gì về chi bộ Đảng Lao động Việt Nam nữa, cũng như về các đoàn thể như Phụ nữ, Thanh niên, Mặt trận...

Điều gì đã xảy ra với tôi cũng xảy ra với Bôn. Rễ, chuỗi của anh cũng chẳng biết gì về địa chủ, họ có nghe nói về cuộc đấu tranh đánh đổ địa chủ, tuy cũng tò mỏ háo hức muốn biết nó diễn ra thế nào, nhưng coi việc đó

chẳng liên quan gì đến họ.

Thời gian trôi nhanh. Tin thắng trận từ Điện Biên

Phủ dồn dập truyền về. Lòng người dân náo nức. Hằng

ngày vài chiếc máy bay chiến đấu của Pháp vẫn đều đặn

bay dọc sông Công lên phía Bắc; rồi nghe tiếng bom nổ ở

một nơi nào đó rất xa. Không nghe thấy tiếng pháo cao

xạ từ dưới mặt đất bắn trả, nhưng sau đó bầy máy bay

quay trở về, khi đi 5 chiếc, khi về còn 2 hay 3, nghĩa là 2

hay 3 chiếc đã nằm lại. * *

161Tình hình thực tế xóm Soi đã rõ, ở đây không có địa chủ cường hào gian ác có nợ máu với nông dân; phú nông cũng chỉ có một người duy nhất, năm ngoái được tuyên dương nông dân xuất sắc, có đóng góp tích cực cho kháng chiến thì năm nay đã tự tử trước khi đội Cải cách về.

Đội chỉ thị, có tin bọn Liên minh chống Cộng có tay chân len lỏi trong vùng. Khi phát động quần chúng, cần kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ: 1- Đấu tranh đánh đổ địa chủ; 2- Bảo đảm an ninh chính trị, phát hiện, bắt giữ những tên phản động ẩn mình trong hàng ngũ cơ quan chính quyền, đảng, đoàn thể. Vậy là chúng tôi có thêm một nhiệm vụ mới không kém phần phức tạp - thậm chí còn phức tạp hơn nhiều - lẽ ra thuộc trách nhiệm công an; họ mới có nghiệp vụ điều tra loại tội phạm này.

Tôi bảo Trung: - Tại sao anh không nói rõ với đội? Theo tôi, đội Cải cách Ruộng đất chỉ có một nhiệm vụ chính là phát động cuộc đấu tranh của nông dân lao động đánh đổ giai cấp địa chủ. Còn việc điều tra tội phạm chính trị chỉ là việc kết hợp theo khả năng thực tế, chứ không thể đặt thành một nhiệm vụ chính ngang hàng với Cải cách Ruộng đất. Phải khẳng định, đó là nhiệm vụ của ngành Công an. Chúng ta không có nghiệp vụ điều tra các vụ án hình sự, vụ án chính trị... Cho nên phê bình chúng ta không sâu sát vì không phát hiện được gì về hoạt động của bọn phản động nằm vùng là không đúng. Nên nhớ rằng, đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho nông dân nghèo chỉ cần vài tháng vận động là xong, nhưng bảo 162đảm an ninh là việc phức tạp hơn nhiều, một việc lâu dài, thường trực và liên tục... phải dựa vào toàn bộ hệ thống chính trị cơ sở mới làm được.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn cảnh giác, vẫn quan tâm an ninh chính trị. Ta dựa vào dân, có gì đáng ngờ thì bí mật báo cho ta biết. Phải khéo léo, nếu đánh động địch, chúng sẽ thay đổi phương pháp hoạt động hoặc tạm thời nằm im nghe ngóng... khiến ta càng khó phát hiện ra chúng. Còn nếu báo động sai, thì ta vô tình gây ảnh hưởng tiêu cực, khiến quần chúng nghi kỵ, hoặc nghiêm trọng hơn là bôi nhọ uy tín của đảng bộ, UBND, đoàn thể địa phương...

Thật ra, chúng tôi đã cảnh giác ngay từ đầu. Còn nhớ, chuyên gia Trung Quốc chẳng đã nói trong hội nghị tập huấn Cải cách Ruộng đất: "Đảng không còn là Đảng của Đảng Lao động Việt Nam, mà là Đảng của phản động! Những phần tử phản động đã chui vào Đảng, lũng đoạn Đảng, làm Đảng biến chất".

Lúc đó, đại đa số cán bộ dự họp đã lên tiếng phản bác sự đánh giá này. Nhưng nó vẫn ám ảnh họ, rồi sự thận trọng cũng như ý thức trách nhiệm khiến họ vẫn bị ràng buộc về nhận thức, họ vẫn ít nhiều bị ức chế.

Chính vì vậy mà ngay từ đầu, chúng tôi không dựa vào chi bộ, UBND xã, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ... tự đặt mình vào tình thế đối lập. Từ đó đã nảy sinh hội chứng kỳ khôi luôn nghi kỵ, đề phòng, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù... Nói tóm lại là dễ đánh mất sự bình tĩnh, 163tỉnh táo, và bản lĩnh cần thiết trong những tình huống phức tạp, nhạy cảm. Đây thật sự là một sự lệch lạc nguy hiểm về nhận thức và phương pháp tư tưởng của ba người chúng tôi ở xóm Soi hồi đó. Mà cũng không hẳn chỉ chúng tôi mắc hội chứng ấy!

Rễ chuỗi của ba người chúng tôi đều không phát hiện địa chủ ở xóm Soi. Theo đúng quy trình thì đã đến bước đấu tố. Làm gì đây? Tiến thoái lưỡng nan. Tôi trao đổi với Trung:

- Anh nghĩ sao? Không đấu tố thì không xong. Nhưng ai đấu ai thì chưa rõ. Chưa tìm ra khổ chủ, tức là nông dân sẵn sàng kể khổ, tố giác tội ác và kẻ ác... Cũng chưa xác định được đối tượng, tức địa chủ, là ai. Anh cần xin chỉ thị của đội.

Trung lên gặp đội trưởng Hoàng Nhật Tân. Không biết cấp trên nói gì với anh, chỉ thị anh phải làm gì, chỉ thấy khi trở về, anh trầm ngâm, lo lắng, lặng lẽ... Anh bảo tôi:

- Đội trưởng bảo, cứ phải theo quy trình chung, tức là vẫn tổ chức đấu tố.

Hôm sau, Trung tìm gặp tôi, bảo tôi đến dự cuộc tố khổ ở sân đình. Khi tôi đến, đã thấy Trung và Bôn có mặt. Tôi chờ. Người đến đông dần. Một người đứng lên nói vắn tắt lý do cuộc họp và tuyên bố khai mạc. Chờ một lúc không thấy ai nhúc nhích, tôi bắt đầu sốt ruột. May 164thay, một cô gái khoảng mười tám, đôi mươi tách khỏi hàng, và bước lên trước cửa đình, quay mặt về phía củ toạ, gọi xách mé:

- Nầy con kia, mày lên đây, tao "đối trọng" với mày. Mày là đứa "con gái con ghẻ" gì mà ích kỷ thế, mày có nhận không, hay mày chối, hả?

Giọng cô gái khiêu khích, đằng đằng sát khí. Đó là cô con gái còn ở với ông bố là phú nông đã tự tử trước khi đội Cải cách về. Người chị ruột của cô đã lấy chồng và sống với gia đình nhà chồng ở huyện khác.

Cô gái bị gọi là "con nọ con kia" kia, lúc đó mới lên tiếng. Cô này nhiều tuổi hơn, độ 22-23, cũng chưa chồng, vốn tham gia hội phụ nữ xóm và xã, nên có vẻ chín chắn, bình tĩnh, chững chạc hơn, "chính trị" hơn. Cô nói:

- Trước hết, tôi thấy không nên sỗ sàng, thô lỗ, có chuyện gì không đồng ý thì cứ bình tĩnh trình bày, như thế mới có thể thông cảm với nhau, bỏ chín làm mười, nếu không thì chẳng bao giờ hiểu nhau và cùng nhau giải quyết những bất đồng.

Cách nói năng với phong thái ung dung, thân thiện của cô có vẻ đã "giải giáp" cô con gái phú nông, khiến không khí dịu đi, trở nên thân thiện. Rủi thay, đấy lại là chuyện trái ngược với điều Trung mong muốn, là tạo

ra một không khí hận thù, đẩy cuộc đấu tranh của nông

dân lên cao trào. Trung đã thất bại. Rút cuộc, cuộc cãi vã

giữa hai cô gái chỉ là chuyện tranh nhau sử dụng chiếc

165gầu dai. Cô trẻ phê bình cô lớn tuổi là ích kỷ, giữ chiếc gầu quá lâu, để cô trẻ phải chờ đợi mất một buổi chợ.

Thật khôi hài, chỉ là chuyện cãi nhau vặt của trẻ con nông thôn! Đây không chỉ là thất bại của Trung, mà là thất bại của cả tổ xóm Soi chúng tôi.

Chưa hết. Sáng hôm sau, Trung lại bảo tôi, độ 9-10 giờ đến cuộc họp đấu tố thứ hai tại một nhà ở gần đình. Khoảng hơn 10 giờ, tôi đến nơi hẹn. Cửa mở rộng, bốn bề im ắng. Không thấy Trung và Bôn. Chủ nhà là một ông già khoảng 70 tuổi, gầy gò, mắt đeo kính râm, vẻ hiền lành. Tôi chưa từng gặp ông này. Giữa nhà có một đám tro tàn, lửa còn âm ỉ, một làn khói nhẹ vẫn đang bốc lên, lượn lờ thoát ra khỏi cửa. Có vẻ đây là một cuộc đấu tranh của nông dân, họ đã kéo nhau đến, lục lọi đốt hết những giấy tờ ghi nợ nần và mọi ràng buộc của họ với địa chủ. Lạ là, tôi chưa hề nghe nói ông cụ đã bị quy là địa chủ. Nếu không phải là địa chủ thì tại sao lại tổ chức nông dân đến khám xét, đốt phá thế này? Không cẩn thận thì ta vi phạm pháp luật!

Không khí đang yên ắng, bỗng một thanh niên từ đâu đẩy cửa bước vào. Anh này có vẻ hùng hổ, dữ dằn, xông thẳng đến chiếc tủ đựng đầy sách xếp rất ngay ngắn, trật tự trên giá, có vẻ sách chữ Nho. Như vậy, ông cụ là một nhà Nho? Chắc hẳn đó là những sách quý, tài sản tinh thần của cụ, mà cũng là của xã hội. Hắn chẳng nói chẳng rằng, cầm từng cuốn, giở xem, lắc lắc, không 166thấy tiền hay giấy tờ gì giấu trong đó, liền quảng sách vào đống tro. Hắn lộ mặt là một tên lưu manh trà trộn vào nông dân. Hắn giở một cuốn sách khác, định quẳng tiếp cuốn sách vào lửa. Tôi bỗng hét to:

- Này anh kia, không được đốt sách.

Hắn giật mình, bỏ cuốn sách xuống, rồi lặng lẽ lủi khỏi phòng. Lúc đó tôi hết sức căm giận. Nhưng cũng kịp nghĩ, không khéo một kẻ nào đó sẽ kiếm chuyện lên án mình cản trở cuộc đấu tranh của nông dân! Có thể lắm! Anh ta là ai? "Xuất đầu lộ diện đi"!

Vậy là đấu tố không thành. Bắt đầu xem xét tình hình sở hữu ruộng đất và việc chia đất cho nông dân nghèo. Việc này Trung tự làm một mình, không báo cho tôi và Bôn tham gia... Một buổi tối, tôi sắp đi ngủ thì Trung đến gặp. Anh nói: Anh thợ mộc cũng là chủ một cửa hàng đồ gỗ duy nhất, khá khang trang trong xóm. Anh sở hữu 5 sào đất, nay tự nguyện hiến 2 sào, chỉ giữ lại 3 sào để ở, làm xưởng chế tác đồ gỗ, làm nhà kho để gỗ và trồng rau ăn cho gia đình... Trong cuộc họp, nông dân hoan nghênh việc anh hiến đất, nhưng cho rằng số đất anh giữ lại không phải là 3 sào mà nhiều hơn thế. Cãi nhau mãi vẫn bất phân thắng bại. Đó là vấn đề tồn tại, Trung đề nghị tôi tham gia giải quyết. Tôi nhận lời. 167Sáng hôm sau, tôi đến gặp anh chủ cửa hàng đồ gỗ. Anh nhăn nhó, chuyện chẳng có gì đáng để đội phải quan tâm, dễ dàng phân xử thôi. Đất sờ sờ ra đấy, ai thắc mắc xin cứ lấy thước đo khắc rõ thôi, có gì phải cãi cọ. Tôi bảo anh:

- Thợ mộc thì luôn kè kè bên mình cái thước, nên tôi tin anh đúng. Nhưng lúc này, anh nên nhường nhịn, không cãi lại nông dân làm gì, nếu không công việc sẽ kéo dài. Đến khi tính thuế, cơ quan thuế sẽ dựa theo lời khai của anh để tính thuế, kiện cáo gì lúc đó sẽ tính. Thế là êm thấm!

Anh thợ mộc kiêm chủ xưởng mộc nhanh chóng nhất trí với tôi! Xong một việc...

Tôi bước ra khỏi nhà anh thợ mộc thì gặp ngay hai thanh niên đang chờ sẵn. Một anh nói:

- Chúng em xin anh dành chút ít thời gian để chúng em trình bày một vướng mắc. Mời đội đi với chúng em vài bước tới khu đất, đội sẽ rõ ngay thôi.

Đó là khu đất bồi ven sông, khá rộng. Một anh nói: - Chúng em một tấc đất cắm dùi cũng không. Nay nhờ đội chúng em đã có đất làm nguồn sinh sống, ơn ấy cũng ví như ơn của bậc sinh thành, chúng em không bao giờ quên... Có điều là các anh đội tính diện tích dôi quá nhiều, sau này chúng em sợ phải đóng thuế nặng, không biết chịu nổi không?

168Nói rồi anh lấy đá đánh dấu chiều ngang hai dải đất mới được chia. Anh nói: - Đấy đội xem.

Tôi an ủi: - Hai anh bây giờ đã có đất canh tác rồi, tôi rất mừng. Nhưng diện tích chính xác là bao nhiêu thì phải tính lại, thế chứ gì?

Hai người lúng túng chưa biết trả lời thế nào.

- Chính xác là phải đo đạc lại từng phần đất đã chia cho từng người. Đúng thế phải không? - tôi nói - Đo lại cả bãi đất bồi mênh mông này thì mất bao nhiêu ngày? Các anh thử tính xem. Không biết chứ gì? Chả cứ các anh, tôi cũng không biết! Có điều chắc là không phải ngày một, ngày hai. Đo đạc ruộng đất là công việc phức tạp phải do những nhân viên chuyên nghiệp thực hiện, tốn nhiều công sức, thời gian. Vậy kéo dài lê thê đến bao giờ? Quan trọng nhất là hai anh đã có ruộng đất. Hãy biết thế. Còn những việc khác đến lúc tính thuế sẽ hay.

Hai thanh niên đã nghe ra. Vậy là chúng tôi đã không bị sa lầy ở xóm Soi.

Trong đợt Cải cách Ruộng đất này không thấy nói đến chỉnh đốn tổ chức. Vì vậy, sau khi hoàn thành chia ruộng cho nông dân nghèo, thì nhiệm vụ của đội Túc Duyên chấm dứt. Đã qua ngày 10/10/1954, ngày bộ đội vào tiếp quản Thủ đô, tôi ngày càng nóng ruột, đứng ngồi không yên.

Chúng tôi tổ chức một cuộc họp mặt chia tay với bà

con xóm Soi. Cuộc chia tay thật cảm động, các cháu bé

169cứ giữ mãi cánh tay chúng tôi không rời. Các bà, các chị cũng bịn rịn. Mấy anh thanh niên vui sướng vì được chia ruộng, trở thành "hữu sản" và triển vọng sẽ khá giả. Bà Tình nói trêu tôi:

- Gớm, anh Nguyên giấu tên thật, tự gọi bằng tên con (đúng thế, không hiểu sao bà lại biết).

Không khí dân dã, thân quen, tưởng như tôi đang ở Yên Mỹ quê tôi.

Kết quả chính của Cải cách Ruộng đất ở xóm Soi, ngoài việc tuyên truyền rộng rãi chính sách Cải cách Ruộng đất của Đảng, là chia ruộng đất cho nông dân nghèo. Kết quả ấy đã đạt được trong một cuộc vận động hòa bình, không có bạo lực (dù là bạo lực cách mạng), mà chúng tôi cũng không bị phê phán là hữu khuynh. Đó là do chúng tôi không tổ chức đấu tố (không có địa chủ).

Sau này, khi hòa bình lập lại, Cải cách Ruộng đất được phát động rầm rộ trong toàn quốc, gắn liền với chỉnh đốn tổ chức. Những gì diễn ra trong cuộc đại vận động này thật xứng đáng với tiếng tăm lừng lẫy "trời long, đất lở". Nó vượt xa những gì chúng tôi có thể tưởng tượng. Chúng tôi trở lại Thái Nguyên tập trung dự tổng kết. Lần này hội nghị tổng kết họp ngay tại thị trấn Đại Từ. Mọi người chỉ mong mọi việc chóng kết thúc để "về quê" càng sớm càng tốt.

170Sau hai ngày tổng kết, hội nghị bế mạc. Tôi rảo bước trở về cơ quan Phủ Thủ tướng. Trên đường nhộn nhịp xe cộ, nhiều ô tô tấp nập hai chiều, vui như trẩy hội. Về đến Tân Trào, không khí khác hẳn, yên tĩnh đến kỳ lạ Thì ra các cơ quan Trung ương đã chuyển hết về Thủ đô. Phủ Thủ tướng cũng vậy, chỉ còn hai người ở lại chờ tôi là anh Hoàng Quốc Dũng và Trần Ngọc My. Chúng tôi gặp nhau một lát rồi đi ngay đến thị xã Tuyên Quang, từ đó thuê đò xuôi dòng sông Lô suốt đêm. Ba giờ sáng lên bến Sơn Tây, chúng tôi vào ngủ tạm trong một ngôi đền bỏ hoang của thị xã. Sáng ra bến xe, có khá nhiều ô tô đón đợi khách, các lái xe xúm quanh chúng tôi, tranh nhau mời mọc.

Ô tô lao nhanh, loáng cái đã về đến Hà Nội. Đường

về gần gũi thế mà phải mất 9 năm ròng rã trên núi rừng

mới tới được ngày hội ngộ là đây! Bao nhiêu người đã hi

sinh cho điều kỳ diệu như trong mơ này?

Đó là ngày 20/10/1954. Chào Hà Nội! Chào Việt Bắc

biết bao thương nhớ đầy vơi! "Thương nhau chia củ sắn

lùi / Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng" (Tố Hữu).

171Chương 6

TRỞ VỀ THỦ ĐÔ

NƯỚC MẮT NGÀY VỀ

Vợ tôi vào thành sớm, trước ngày bộ đội trở về (10/10/1954), để tham gia tiếp quản Thủ đô. Tôi ở lại chiến khu dự tổng kết đợt I Cải cách Ruộng đất, đến ngày 20/10 mới trở về.

Trước ngày giải phóng, trên chiến khu có mở lớp tập huấn tiếp quản Thủ đô, học viên phải nắm vững và tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc, mà một trong số đó là đề cao cảnh giác, đề phòng âm mưu kẻ địch mua chuộc cán bộ, phá hoại trật tự trị an và công cuộc xây dựng hòa bình. Cán bộ bao nhiêu năm lăn lộn trong cuộc kháng chiến gian khổ, thiếu thốn nay bỗng chốc từ nông thôn, rừng núi đổ về thành phố xa hoa, rất dễ sa ngã, rất dễ ăn phải "đạn bọc đường" của địch nên phải cẩn trọng đề phòng, kể cả giữa vợ chồng, cha con, anh chị em... Chín năm chiến tranh, tư tưởng, hành vi con người có thể có nhiều thay đổi, bạn có thể đã thành thù. Khi mới về thành, cán bộ phải ở tập trung, chưa nên về nhà bố mẹ khi chưa điều tra kỹ lưỡng.

172Vì nguyên tắc "đạn bọc đường" mà vợ tôi phải đợi gặp tôi rồi mới tính chuyện cùng đến thăm bố tôi. Bố tôi rất hiền và rất thương yêu vợ con. Do hoàn cảnh oái oăm, ông không giúp đỡ được nhiều cho vợ con, ông tự biết thế nên luôn mặc cảm có lỗi. Trong kháng chiến chống Pháp, đi theo kháng chiến thì không biết làm gì để sống nên ông đành ở lại nội thành với bà vợ hai và đứa con gái đầu lòng mới được một tuổi. Kháng chiến thắng lợi, người người hân hoan ùn ùn kéo về Thủ đô, ông nóng lòng sốt ruột ngóng chờ gặp lại vợ con.

Tôi không tin bố tôi đã chuẩn bị sẵn "đạn bọc đường" để đón tôi. Ông đã từng ủng hộ cách mạng, ủng hộ tôi hoạt động bí mật. Khi sắp nổ ra chiến tranh, ông tự nguyện làm tai mắt cho kháng chiến, và vợ tôi đã giới thiệu ông với cơ sở hoạt động nội thành. Tôi hoàn toàn tin tưởng bản chất ngay thẳng của ông. Dù thế nào chăng nữa, ông không bao giờ có thể đoạn tình cha con, coi là kẻ thù đứa con chín năm biệt tăm, giờ mới gặp lại. Vả chăng, tôi không hề bị ám ảnh bởi một hội chứng rất kỳ lạ, phổ biến trong Cải cách Ruộng đất, hội chứng nhìn ai cũng nghi ngờ, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Tuy vậy, tôi vẫn tuân thủ nguyên tắc, cũng là sự cẩn trọng không thừa, để những kẻ quen soi mói, rình mò không có cớ nghi ngờ, vu khống.

Tôi đợi vài ngày rồi mới cùng vợ đến thăm bố và dì (tức bà vợ hai). Bố và dì đã sinh thêm hai con gái, vậy là tôi có ba em gái, rất xinh đẹp, đáng yêu. Lúc đầu chúng bỡ ngỡ ngượng nghịu. Bố tôi nói:

173- Đây là anh và chị dâu các con. Anh chị biền biệt mười năm, nay mới từ rừng rú ma thiêng nước độc trở về đấy, các con chào anh chị và đến với anh chị đi.

Bố như vừa mừng vừa tủi, giọng nghẹn ngào, đứt quãng, như sắp bật khóc. Tôi thương bố vô cùng, như chưa bao giờ thông cảm và thương bố như lúc này. Bố thật tội nghiệp! Đứa bé còn rụt rè, đứa lớn thì chạy ngay tới ôm chầm lấy chúng tôi, cuối cùng tất cả quấn quýt vây quanh chúng tôi ríu rít như đàn chim ra ràng.

Câu chuyện chúng tôi với bố và dì xoay quanh cuộc sống ở rừng và ở Thủ đô bị chiếm đóng. Bố và dì trông nom một cửa hàng giải khát tại phố Phùng Hưng, ngoài là kinh doanh, thực chất là cơ sở bí mật, có nhiệm vụ quan sát lính Pháp ra vào Cửa Đông, thu thập tin tức, thông báo cho ta. Cửa hàng này do vợ tôi gây dựng trước khi đi kháng chiến, giao cho bố tôi quản lý, và giới thiệu với cơ quan hoạt động nội thành. Bố đã bị địch nghi ngờ, bắt đưa vào thành, tra hỏi gần một năm không thu được kết quả gì. Dì cũng phải chạy chọt, vay mượn để đút lót bọn Pháp, bố mới được chúng thả.

Tôi nói:

- Trong hai cháu chúng con đưa đi theo, Hoài Niệm đã được gửi sang Trung Quốc học, còn Diệu Anh ở lại. Chúng con đã sinh thêm hai cháu, cháu gái Xuân Như năm nay 5 tuổi và cháu trai Xuân Nguyên 3 tuổi. Cả ba cháu đều ở Trại Nhi đồng của Hội Phụ nữ do nhà con tổ chức và phụ trách. Mẹ con cũng ở gần trại.

174Bố tôi hỏi:

- Anh chị về được bao lâu rồi?

- Thưa bố, vợ con về trước ngày bộ đội vào, để tham gia tiếp quản. Con mới về cách đây vài ngày.

- Các cháu và bà có khoẻ không?

- Các cháu và mẹ con đều khoẻ, không bệnh tật gì. Thấy bố có vẻ chưa tin, tôi nói thêm:

- Ở trên núi cao nên khí hậu mát mẻ, trong lành, các cháu lại được nuôi dưỡng tốt, nên cháu nào cũng da dẻ hồng hào như trái đào. Mẹ con cũng khoe mạnh, không bệnh tật gì.

Sau một thoáng ngập ngừng, bố hỏi:

- Sao anh chị không đưa bà và các cháu về cùng?

Vợ tôi nói:

- Thưa bố, phải đưa cùng một lúc tất cả hơn 40 cháu và mẹ chúng con, nên phải có thời gian chuẩn bị chu đáo để chuyến về được an toàn.

Bố tôi lại hỏi:

- Thế bao giờ về?

- Thưa bố, con có nhiệm vụ trước hết tổ chức một trại đón các cháu miền Nam tập kết, rồi sau đó tổ chức trại đón các cháu kháng chiến, khi đó mẹ chúng con sẽ cùng về.

175Bố tôi ngồi lặng im, nét mặt lộ vẻ lo lắng, bồn chồn. Tôi đoán bố không hiểu hết những gì vợ tôi nói, mà cũng chẳng cần biết, nào là tập kết, nào trại nọ trại kia, điều bố mong ngóng nhất, từng ngày từng giờ là ngày về của mẹ tôi. Cuối cùng, khi chia tay, bố nói, giọng tha thiết và trầm buồn:

- Anh chị cố đưa mẹ về sớm ngày nào hay ngày ấy. Ngày hôm sau, bố dẫn chúng tôi thăm lại ngôi nhà phố Lê Hồng Phong, một villa xinh xắn trong một khuôn viên rộng, chúng tôi đã ở đó gần hai năm cho đến trước ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946. Trước khi ra đi, chúng tôi đã mời ông đến, giao nhà nhờ ông trông nom. Nay, ông trao lại chìa khóá và nhà cửa nguyên vẹn như cũ. Trong phòng khách ở tầng một, vẫn còn nguyên chiếc tủ bằng gỗ lim đánh xi đen, chứa đầy sách. Tôi bồi hồi xúc động khi tìm thấy những cuốn sách đã từng đồng hành với tôi trong một thời tuổi trẻ, sách triết học, sách văn chương Pháp và Việt, sách về luật. Đăc biệt vẫn còn nguyên vẹn cuốn Crimes et Chatiments (Tội ác và Trừng phạt) của nhà văn Nga Dostoievski, tôi mua trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ và viết lời tâm huyết tặng Tụy Phương, khi đó mới là bạn; cuốn Truyện Kiều loại đặc biệt tôi được tặng, in trên giấy dó, do họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung vẽ bìa, nàng Kiều ngồi gẩy đàn. Nhưng không còn bộ salon bằng gỗ "lúp" màu đỏ, có vân xoắn xít rất đẹp và hiếm, của ông ngoại cho, cả chiếc dương cầm (piano) chúng tôi mua cho Hoài Niệm từ lúc chưa đầy một tuổi, để cậu bé gõ, làm quen dần với âm nhạc. Cả hai thứ này, 176cô Tĩnh, em gái Tụy Phương, đã về thành một hai năm trước ngày giải phóng, đến xin bố tôi để mang bán lấy tiền độ nhật. Mấy thứ đồ gỗ tôi không tiếc, chúng đã giúp em vợ tôi qua cơn bĩ cực. Quý nhất là vẫn còn cuốn tiểu thuyết Nga và cuốn Truyện Kiều.

Bố tôi ngỏ ý tặng chúng tôi một bộ salon gụ, quạt trần, xe đạp... Chúng tôi chỉ nhận một chiếc xe đạp nữ (để hai vợ chồng dùng chung) là thứ thiết thực nhất lúc này. Chắc không ai coi đó là "viên đạn bọc đường"! Mà nếu có xầm xì, dị nghị thì cũng là chuyện tầm phào, chẳng đáng quan tâm!

Tụy Phương cùng chị Nguyễn Thị Nhàn và chị Lâm Phương phải mất hai tháng để tổ chức Trại Nhi đồng miền Nam, đến cuối tháng 1/1955 mới chuẩn bị xong Trại Nhi đồng miền Bắc. Vậy là bốn tháng đã trôi qua.

Chúng tôi thỉnh thoảng vẫn đến thăm bố, dì và các em. Bố tôi luôn hỏi đi, hỏi lại: - Mẹ chưa về à? Những câu hỏi như xuyên vào tim óc chúng tôi. Thực tình tôi cũng rất sốt ruột. Tôi hiểu Tụy Phương và các bạn đã cố gắng hết mình, nên trấn tĩnh được. Nhưng làm sao có thể đòi hỏi bố tôi cũng thông cảm như tôi? Sau vài lần như thế, bố tôi không nhắc lại câu hỏi ấy nữa, không khí các buồi gặp trầm xuống, tôi hiểu bố tôi rất có ý tứ, không muốn giục giã, hối thúc làm các con thêm rối ruột. Nhưng ông ngày càng bần thần, không giấu được niềm thương nhô, đau buồn. Mỗi lần gặp ông lại thấy ông như suy sụp hơn. Thấy vậy mà tôi không biết làm gì để an ủi ông.

177Cho đến một hôm, cũng như những lần trước, ông ít nói, ngồi như pho tượng, bất ngờ ông ôm mặt bật khóc, nức nở như đứa trẻ:

- Sao anh chị để mẹ ở mãi trên rừng, trên rú ma thiêng, nước độc thế. Bà ấy chịu đựng đã bao nhiêu năm rồi! Khổ thân bà ấy quá!

Nước mắt và lời trách móc ấy làm cho tôi hiểu hơn bao giờ, bố tôi mặc dù ăn ở với bà khác, nhưng vẫn ấp ủ trong lòng tình yêu thương mẹ tôi sâu sắc đến nhường nào.

Cuối cùng tin vui đến, Tụy Phương báo với ông:

- Cuối tuần này, con sẽ đi đón các cháu và mẹ chúng con về, bố ạ.

Ông như người hồi sinh sau cơn bệnh nặng. "Thế à?" Giọng ông sôi nổi, mắt loé lên niềm vui. Vợ tôi bỗng buột miệng:

- Đường về cũng còn gian nan, bố ạ.

Sao lại hớ hênh thế? Nói điều đó lúc này để làm gì? Vợ tôi dường như cũng nhận ra mình không thức thời, ngồi im. Bố tôi cũng im lặng. Tia hi vọng vụt tắt, mắt hơi tối lại, ông trở về với trạng thái lo lắng, bồn chồn, tuy không nặng nề như trước. Sau một lúc trầm ngâm, ông hỏi:

- Có ai đi cùng chị không?

- Không ạ, chị em phải ở nhà lo ổn định nơi ăn chốn ở. 178- Phải rồi, thân gái dặm trường, gian nan là phải, xa xôi như thế, lên núi lên rừng đã vất vả, lúc xuôi lo toan cho cả đống người, trẻ con, người lớn, lại càng vất vả. Giá như tôi thì không biết xoay xở ra sao. Chị thật có khí phách, nam nhi chưa chắc mấy ai bì. Cầu mong chị, bà nó và các cháu, mọi người đi đến nơi về đến chốn an toàn. Tụy Phương có tài tổ chức, dũng cảm, mọi việc diễn ra suôn sẻ, "đi đến nơi, về đến chốn", an toàn, mạnh khoẻ như bố chờ mong. Tụy Phương còn bận tíu tít sắp đặt ổn định công việc trại, mẹ tôi tạm ở nhờ trại. Tôi đến báo tin vui cho bố, lần này là niềm vui trọn vẹn. Bố tôi quýnh lên, đứng ngồi không yên, nằng nặc đòi đến thăm mẹ tôi ngay, tôi khuyên thế nào cũng không nghe. Ông gọi lái xe đưa chiếc Cirtroen đến, đưa hai bố con đến trại.

Bố và mẹ tôi gặp lại nhau sau 9 năm xa cách nên rất xúc động. Sau những lời thăm hỏi, ông bà ngồi bịn rịn không nói nên lời. Tôi lánh đi, để ông bà hàn huyên, tâm sự. Hơn một giờ sau, bố tôi ra về. Trong một hoàn cảnh éo le, âu cũng là một cuộc "đoàn tụ" hiếm có, tuy ngắn ngủi, nhưng đậm tình sâu, nghĩa nặng.

179Chương 7

TRÊN ĐẤT NƯỚC MẶT TRỜI MỌC

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG NÁO ĐỘNG Ở TOKYO (CUỐI THÁNG 5, ĐẦU THÁNG 6 NĂM 1981)

Lớp bồi dưỡng Hội thảo Quốc tế về "Kế hoạch hóa phát triển Vùng" ba tháng (từ 1/4 đến 30/6/1981) do Trung tâm Liên hợp quốc về Phát triển Vùng (United Nations Centre for Regional Development - viết tắt UNCRD) ở thành phố Nagoya, Nhật Bản, tổ chức đã đến hồi kết thúc. Theo chương trình, 10 ngày cuối cùng sẽ diễn ra tại Trung Quốc. Tôi và Xá, người thư ký, đương nhiên là không đi Trung Quốc.

Cùng ở lại Nhật Bản, có bạn nữ Philippines, một bạn nữ khác, bạn nam, người Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia, anh bạn Karim người Afghanistan... Những người ở lại Nhật Bản sẽ tham quan, nghiên cứu ở Tokyo.

Lễ kết thúc khóa và chia tay bằng một tiệc chiêu đãi và trao bằng Chứng nhận được tổ chức trang trọng nhưng giản dị trong một phòng riêng trên tầng gác một khách sạn ở Tôkyô. Cuộc chia tay diễn ra trong bầu không khí 180hữu nghị, đoàn kết, chân tình đầy cảm xúc, hứa hẹn duy trì tình bạn lâu bền, viết thư cho nhau, có bạn còn hứa sẽ tìm đến thăm nhau...

Xá rời khách sạn trước tôi, không biết từ lúc nào. Tôi coi là chuyện bình thường, vì trước đó, Xá đã xin phép và được tôi đồng ý, sau lễ bế mạc, đi mua đồ lưu niệm về tặng anh em cơ quan.

Tôi và Karim về phòng riêng ở khách sạn lúc gần 20 giờ. Tôi yên tâm chờ Xá. Gần 22 giờ, tôi bắt đầu sốt ruột. Karim ở kế phòng Xá, gõ cửa không nghe trả lời, bèn sang gặp tôi. Anh hỏi "Anh có nghĩ tới tình huống xấu không?" (ý Karim là Xá bỏ trốn) - "Tôi cũng thoáng nghĩ tới điều đó, nhưng cũng có thể Xá bị rắc rối với công an chăng, như quên không mang theo hộ chiếu chắng hạn" - tôi nói. Tôi chưa vội khẳng định, vì chưa có bằng chứng xác thực mà vội nghi oan cho người khác thì sau này không khỏi hối tiếc, ân hận.

Karim ngồi lại với tôi. Thời gian trôi nhanh, đã gần nửa đêm. Tôi bắt đầu lo lắng. Tôi và Karim xuống gặp nhân viên tiếp tân, mượn chìa khóa lên gác mở cửa phòng Xá để kiểm tra đồ đạc. Đập ngay vào mắt là hộp các-tông đựng máy cassette JVC chúng tôi mới mua cách đây vài

hôm, tôi mua hai, Xá mua một. Hộp rỗng, chỏng chơ trên

giá tủ. Vậy là rõ. Mang theo máy làm gì? Y chỉ mang

máy đi, bỏ lại hành lý. Kiểm tra cặp, biết y đã mang theo

hộ chiếu. Túi du lịch to bằng da y mua tại Nhật còn đầy

quần áo, y chỉ lấy mang đi những đồ mặc lót mới mua. Sự

thật rành rành, y đã vội vã bỏ trốn.

181Tôi lo sợ, báo cho Dũng, vốn là một học sinh Sài Gòn được học bổng du học Nhật, đỗ master, trở thành cán bộ của Trung tâm, thường tự nguyện thay mặt Việt kiều, rất nhiệt tình giúp đỡ đoàn Việt Nam. Lúc này, Dũng là người chịu trách nhiệm hướng dẫn giúp đỡ, chăm sóc nhóm nghiên cứu ở Tokyô. Dũng đánh xe tới ngay.

Tôi gọi cho Đại sứ quán, không nhận được trả lời. Đợi một lúc lâu mới có người lên tiếng, đó là Bí thư sứ quán - anh Du. Sau khi biết tình hình, anh Du nói: "Anh bảo Dũng đưa anh tới sứ quán". Dũng rất quen thuộc, thường lui tới sứ quán như người nhà. Dũng đưa tôi đi bằng xe riêng của anh. Đã gần nửa đêm.

Cả Dũng và tôi đều cảm thấy căng thẳng. Dũng giục tôi ra xe, tạm bỏ lại đồ đạc, quần áo ở khách sạn rồi tính sau. Tôi chỉ kịp mang theo chiếc cặp tài liệu.

Tôi ngồi ghế sau. Đi được một quãng, tôi hỏi Dũng, có xe nào theo sau không? Dũng quan sát một lúc, trả lời: "Không có". Tôi bảo: "Tiếp tục quan sát xem có đuôi không". Đường tới sứ quán khá xa, ở vùng ngoại ô. Thỉnh thoảng Dũng báo tin. Khi xe đến trước sứ quán, tôi mới hơi yên tâm, nhưng vẫn cảnh giác quan sát xung quanh. Cửa sắt đóng im ỉm, Đợi một lúc mới có người ra mở cửa. Lọt vào trong sứ quán rồi tôi mới thật sự cảm thấy an toàn. Tôi ở lại, Dũng ra về. Đã sang một ngày mới.

Thời gian này, tình hình đang khá căng thẳng. Sứ quán đã được báo trước những người Việt lưu vong chuẩn bị biểu tình chống ta. Luật pháp Nhật Bản cho phép 182biểu tình nếu những người tổ chức báo cáo trước và được chính quyền sở tại cho phép. Sứ quán "cấm trại" ngoại bất nhập, nội bất xuất. Tin tức lan truyền có một số khá đông phóng viên Trung Quốc đến Nhật khảo sát, viết báo, một số sau đó bỏ trốn, một Bí thư sứ quán Liên Xô bị tấn công bắt cóc, nhưng chống cự và chạy thoát...

Anh Du và tôi ngồi lại với nhau bàn giải quyết sự cố. "Xá chạy trốn hay bị bắt vì nguyên nhân gì chưa biết, sứ quán cần báo ngay cho Cảnh sát thành phố, yêu cầu họ

', tôi đề

tiến hành ngay việc điều tra, tìm tung tích anh ta",

nghị. Anh Du đồng ý và liên hệ ngay với chính quyền sở tại. Sau đó, anh quay sang nói với tôi: "UNCRD cũng phải chịu trách nhiệm về Xá", anh đòi họ cũng phải tìm Xá.

"Vô lý! Họ có trách nhiệm quản lý các cuộc hội thảo và những cuộc tham quan, khảo sát do họ tổ chức, họ cấp tiền sinh hoạt hàng tháng, mọi người hoàn toàn tự do, ở đâu, ăn uống gì, thăm thú phố xá, đền chùa, giải trí, thậm chí vào "thăm "hộp đêm" hợp pháp"... miễn là không vi phạm pháp luật... Họ đâu có trách nhiệm bảo đảm an ninh cho khách. Đó là trách nhiệm của chính quyền sở tại" - tôi nói.

Tuy vậy, sáng hôm sau, tôi vẫn gọi cho người đại diện cơ quan ở Nagoya, báo tin và đề nghị họ, với uy tín một cơ quan Liên hợp quốc, đề nghị Cảnh sát Tokyo tích cực điều tra, tìm kiếm Xá. Họ tỏ ý rất tiếc về sự việc này cũng ảnh hưởng không tốt đến uy tín của họ, và hứa sẽ thực hiện ngay đề nghị của tôi.

183Sáng hôm sau, Dũng đến sớm. Sứ quán cũng đưa xe cắm quốc kỳ Việt Nam và cho người đưa tôi đến khách sạn. Tôi cùng Dũng, Karim và nhân viên sứ quán lên phòng thu đồ đạc, quần áo của tôi và Xá. Tôi từ biệt Karim trở về sứ quán. Dũng ở lại, từ đó không gặp lại tôi nữa, vì chuyện cấm trại. Tôi rất tiếc, anh là một thanh niên còn trẻ và sớm thành đạt, tuy sống nhiều năm ở Nhật nhưng vẫn nặng lòng với quê hương đất nước, bố mẹ và một người chị vẫn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Anh tận tình, vô tư giúp đỡ tôi và Xá như những người thân, từ ngày đầu đến ngày cuối cùng chúng tôi sinh hoạt trên đất Nhật. Tôi rất biết ơn Dũng. Nhưng ông đại sứ cho rằng, trước đây kỷ cương có phần lơi lỏng, Dũng vào ra sứ quán có phần quá dễ dãi, nay phải hạn chế chặt chẽ hơn. Thế là từ ngày đó, Dũng không lần nào bén mảng tới sứ quán, tôi cũng không được gặp lại anh nữa, dù chỉ để nói một lời cảm ơn và chia tay nhau như những người bạn thân thiết. Đến tận bây giờ, tôi vẫn rất áy náy mỗi khi nhớ lại chuyện cũ. Anh cũng không tiễn tôi ra sân bay (vì ngày đi của tôi được giữ bí mật).

Vừa về sứ quán thì tôi bị ngay cú sốc. Cảnh sát Nhật thông báo đã tìm được Xá. Ngay tối hôm qua, Xá trốn vào sứ quán Mỹ! Anh Du gọi ngay cho phía Nhật, đề nghị bắt giữ y về tội trốn ra nước ngoài. Các nhà chức trách Nhật trả lời, nếu y bị bắt cóc hay bị ép buộc thì mới can thiệp được, họ sẽ phỏng vấn y. Kết quả là: y xin tị nạn chính trị ở Mỹ, lý do vì cuộc sống quá khó khăn, y bị hen nặng không có khả năng chữa bệnh trong nước, lý do thứ hai 184là đất nước thiếu tự do. Tóm lại là y tự nguyện, và chính quyền Nhật không có quyền can thiệp. Họ giải thích thêm, ngay công dân Nhật muốn di cư sống ở nước ngoài một cách hợp pháp, chính quyền cũng không ngăn cấm. Ngay sáng hôm sau, các báo lớn của Nhật rùm beng đồng loạt đăng tin, giật tít gây ấn tượng mạnh: Một ủy viên Ban lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam đang công tác ở Nhật bỏ chạy vào sứ quán Mỹ, xin tị nạn chính trị ở Mỹ. Đây là lần đầu tiên một "quan chức" Việt Nam đang ở Nhật xin tị nạn chính trị ở nước ngoài, mà nước ngoài lại là Mỹ! Một trường hợp hi hữu cho báo chí nước ngoài khai thác! Một tin xấu, ảnh hưởng không tốt đến uy tín nước ta, không chỉ ở Nhật mà cả trên thế giới Nhiều anh em buồn phiền, bực bội, hoang mang. Anh Du liên hệ với nhà chức trách, đề nghị can thiệp với báo giới ngừng đăng tin, hoặc giảm lượng tin, hoặc ít nhất cũng đưa vào loại tin vặt để khỏi thu hút sự chú ý thái quá của dư luận... Lại một đề nghị vô lý nữa! Họ trả lời: Nước Nhật thi hành chế độ tự do ngôn luận, tự do báo chí, nên không thể chấp nhận những đề xuất của ngài. Điều này không chỉ liên quan đến báo giới Nhật mà cả giới truyền thông quốc tế tác nghiệp tại Nhật.

Cảnh nhân viên sứ quán Mỹ và các quan chức Nhật phỏng vấn Xá xuất hiện trên truyền hình. Y được chấp nhận tị nạn tại Mỹ.

Hôm sau, tức là ngày thứ ba sau lễ bế mạc hội nghị, chuyến bay Tokyo - Bangkok (điểm trung chuyển trong 185hành trình Tokyo - Hà Nội) khởi hành. Theo chương trình đã đặt vé từ trước tôi và Xá sẽ đi chuyến đó về nước. Anh Du đến hãng hàng không đổi vé, lùi ngày đi của tôi. Nếu không được - anh nói - sứ quán sẽ xuất quỹ mua vé cho tôi. May mắn là họ đồng ý đổi vé.

Tối hôm sau, chúng tôi xem trên tivi cảnh Xá ra sân bay.

Hai lính Mỹ hộ tống Xá đi vào sân bay giữa hai hàng lính, khi bước lên cầu thang, y còn ngoái lại tươi cười vẫy tay chào mọi người trước khi vào cửa sau máy bay. Sứ quán Mỹ đã "đưa tiễn" Xá với những biện pháp bảo đảm an ninh, như đưa tiễn một "chính khách"!

Anh Du nói với tôi: "Nhà có chỉ thị phải bảo đảm an toàn cho anh. Tôi đăng ký lùi dăm ngày để anh cùng về với một nhóm gần 20 công nhân đã ở đây một năm học nghề dệt. Anh phải ở sứ quán, không được ra ngoài. Cần mua gì, anh em sẽ mua giúp. Khi có việc thật cần thiết phải ra ngoài, sẽ có xe sứ quán cắm quốc kỳ Việt Nam và có người bảo vệ đưa anh đi".

Tuy không nói ra nhưng tôi cứ thấy hơi buồn cười, mình bỗng chốc ngẫu nhiên biến thành một "nhân vật'" quan trọng! Thâm tâm tôi thấy, tuy vẫn phải cảnh giác đề phòng bất trắc, nhưng tình thế cũng không nghiêm trọng tới mức phải cẩn mật đến thế!

Anh Du nói thêm: "Tôi đã điện cho sứ quán Bangkok, đề nghị cử người ra đón anh tại sân bay và đưa anh về sứ quán, không để anh tự đi"

186Đó cũng chính là điều tôi mong muốn.

Anh Du thật chu đáo, tôi rất yên tâm.

Vài hôm sau, anh Du báo lại: "Có một giáo sư sắp hoàn thành nhiệm kỳ 6 tháng dạy tiếng Việt ở trường đại học Osaka, xếp anh về cùng anh ấy, tôi yên tâm hơn". Vậy là phải ở thêm 5 ngày nữa.

Sứ quán Việt Nam nguyên là sứ quán chính quyền Sài Gòn ta tiếp quản sau ngày giải phóng miền Nam. Đây là một căn nhà cũ kỹ, nằm trong một ngõ nhỏ không có vỉa hè, có một tầng trệt, một lầu nhỏ và một tầng hầm. Ông đại sứ Tiến ở trên lầu, tầng trệt là nơi ở và làm việc của nhân viên, và phòng họp, giao ban, bên ngoài là hành lang mọi người qua lại. Không có phòng riêng cho khách, anh em kê cho tôi một giường cá nhân kiểu Nhật, nghĩa là một tấm nệm đặt trên sàn phòng họp.

Trong thời gian nán lại sứ quán, tôi luôn thấy lo ngại, nhưng ngoài mặt cố tỏ vẻ bình tĩnh, tự chủ, đôi khi còn vui vẻ nữa! Tôi luôn tự hỏi, trách nhiệm tôi trong vụ này là gì? Về danh nghĩa thì chúng tôi đều là học viên, tức là hoàn toàn bình đẳng, nhưng trong thực tế thì tôi là thủ trưởng, tôi tất phải có một phần trách nhiệm chứ! Nhưng trách nhiệm gì và đến đâu, thì tôi vẫn không tự 187công việc, chưa được tiếp cận những tài liệu quan trọng nên không thể biết gì về những bí mật quốc gia, tình báo nước ngoài dù muốn cũng không khai thác được gì từ Xá. Điều đáng quan ngại là, Xá biết tôi là một trong những người tiếp cận thường xuyên nhiều bí mật quốc gia, vì trong một thời gian dài, tôi phụ trách tổng hợp kế hoạch quốc gia phát triển kinh tế - xã hội. Giả sử y lộ ra điều đó thì không loại trừ khả năng tôi thành đích ngắm của tình báo quốc tế. Giả thiết mơ hồ và khó tin ấy không khỏi gây ra một cảm giác bất an, nhưng không đến mức quá sợ hãi, tôi bình tĩnh, tỉnh táo, cảnh giác dự phòng và chuẩn bị tư thế đối phó với rủi ro.

trả lời được. Việc Xá trốn có thể gây ra những hậu quả gì? Xá mới chuyển đến cơ quan vài tháng, chỉ bắt đầu làm quen với

Trở lại vấn đề trách nhiệm. Trong thời kỳ chiến tranh, hành động như Xá bị coi là rất nghiêm trọng, là đào nhiệm, phản bội... Bây giờ, hòa bình rồi, thái độ, dư luận xã hội có phần bao dung hơn, nhưng không vì thế mà dễ dàng tha thứ hành động của Xá. Nhưng đánh giá và xử lý thế nào cho hợp lý, hợp tình, thì còn thiếu nhiều yếu tố, như động cơ, thái độ, hành động của Xá trên đất Mỹ....

Gốc của vấn đề là việc cử Xá đến Nhật. Người đề xuất việc này không phải là tôi. Việc quyết định theo thủ tục rất nghiêm, phải được Ban bí thư hoặc Bộ Chính trị duyệt y, và cuối cùng là sự kiểm tra của Ban xuất nhập cảnh. Vậy trách nhiệm của tôi chỉ có thể là thiếu sót trong quản lý cán bộ. Nói thì dễ, nhưng làm mới khó. Tôi nói đùa, anh thả hổ vào rừng rồi bảo tôi phải quản lý con hổ. Một cán bộ sứ quán hỏi tôi, vẻ bất bình, bức xúc: 188"Việc nghiêm trọng như thế mà anh có vẻ bình chân nh vại. Tại sao anh không giữ hộ chiếu của y? Tại sao khốt giữ tiền của y?..." Toàn những chất vấn ng ngẩn!

Có một sự cố nhỏ nhưng cũng gây một lúc náo độn trong Sứ quán. Sứ quán cho một xe to chở năm, bảy cá bộ nhân viên đi phố. Tôi lên xe theo anh em, không phả để đi mua hàng hay thăm thú phố phường, mà chỉ để thay đổi không khí.

Xe vào đại lộ, đỗ sát vỉa hè, tôi bước xuống, đứng cạnh buồng điện thoại công cộng. Cán bộ sứ quán dặn, anh đứng nguyên ở đây, chúng tôi chỉ đi một lát rồi quay lại đón. Tôi vào buồng điện thoại, bỏ mấy đồng tiền kim loại vào khe hở, gọi cô bạn Kyoko ở Nagoya. Tôi chưa kịp nói, tiếng cô đã vang lên rõ mồn một như hai người đứng trước mặt nhau: "Tôi đã biết chuyện Xá, thật kỳ lạ. Tôi hơi lo cho anh, đừng buồn phiền. giữ sức khỏe nhé. Tôi sẽ lên Tokyo thăm anh" - "Ấy chớ! Không nên vất vả thế

tôi vẫn bình yên, sức khỏe tốt, tôi đã vào ở sứ quán". Một.

hai giây im lặng. "Thôi được, tôi sẽ tính". Chúng tôi nói

tiếng Anh. Cách xưng hô trong tiếng Anh cũng như tiếng Pháp đơn giản, không uyển chuyển, tế nhị, nhiều cung

bậc tình cảm như tiếng Việt, nếu dịch theo tiếng Việt thì

phải cân nhắc phức tạp và tế nhị hơn.

Đứng đợi đã mỏi chân, xe vẫn chưa về. Tôi bước vào

tầng trệt một siêu thị lớn ở ngay sau lưng tôi, xem hàng

cho vui, vừa xem, vừa thấp thỏm, đi một quãng lại vội

189quay ra phố. Vài lần như thế vẫn không thấy bóng dáng xe. Đành kiên trì chôn chân đợi trên hè. Lâu, lâu lắm, có dễ đã gần một tiếng. Bồn chồn. Tôi định gọi taxi thì soạt một cái, xe lao đến sát hè. Cán bộ sứ quán nhảy vội xuống, nắm lấy tay tôi lắc mạnh, kêu lên:

- Tìm được anh rồi! Anh làm chúng tôi hoảng hồn, đi loanh quanh mấy phố vẫn không thấy, tôi báo về cho anh Du. Anh Du nói, giọng hơi gay gắt: Các anh phải tiếp tục tìm đi, chắc anh ấy cũng chỉ quanh quẩn đâu đấy thôi. Nếu xảy ra chuyện gì thì các anh phải chịu trách nhiệm đấy. Thôi, tìm thấy anh là mừng rồi. Anh đi đâu mà chúng tôi tìm hết hơi!

Một chuyện hài hước nhưng cũng gây ra vài giờ phiền toái!

Sự cố nho nhỏ thứ hai là Kyoko từ Nagoya gọi đến sứ quán đề nghị gặp tôi. Sau vài câu chào, thăm, cô nói, vẻ trách móc: "Tôi không hiểu tại sao anh không muốn tôi lên Tokyo thăm anh. Khi anh rời Nagoya tôi tiễn anh đi Tokyo. Bây giờ anh sắp rời nước Nhật thì tôi tiễn anh về nước. Chẳng hợp lý hay sao? Từ Nagoya đến Tokyo chỉ hai tiếng Shinkasen, đi máy bay còn nhanh hơn, có gì vất vả đâu? Đến Việt Nam xa hơn rất nhiều mà tôi còn không ngại nữa là. Tôi đã hứa sẽ đến Việt Nam tìm thăm anh, anh còn nhớ hay anh đã quên? Nếu anh đã quên thì thôi, chẳng còn gì để nói nữa. Nhưng tôi sẽ thất vọng, rất thất vọng, anh có biết không?"

190Tôi hơi cuống, rất lúng túng, bất ngờ trước quyết tâm và sự trách móc của cô, nhưng phải cố thuyết phục cô từ bỏ ý định gặp tôi. Tôi dùng những lời lẽ rất chân tình:

"Tôi biết chứ! Tôi vẫn nhớ lời hứa của cô. Và cũng không bao giờ quên những kỷ niệm tốt đẹp ở Nagoya. Có điều tôi chưa nói cho cô biết là không khí ở đây đang khá căng thẳng. Sứ quán đang cấm trại, ngoại bất nhập, nội bất xuất, tôi phải ở trong sứ quán, không ra ngoài, và đã hai lần thay đổi ngày đi... ngày đi được giữ bí mật. Ngay tôi cũng không biết chắc chắn tôi sẽ rời Tokyo vào ngày nào, giờ nào. Vì thế, khi cô đến thì có khi cũng không gặp tôi vì tôi đã đi rồi. Lúc này không thuận lợi để lên Tokyo." Kyoko có vẻ thông cảm. Giọng nói của cô trở lại dịu dàng. Chúng tôi nói lời tạm biệt thân ái. Cuối cùng, tôi hứa sẽ đón tiếp cô chu đáo bất cứ khi nào cô tới Hà Nội, cô tỏ vẻ rất vui.

Về chuyện này, tôi cũng phải giải thích với sứ quán. Hình như có một quy tắc không thành văn nhưng mọi người hiểu ngầm là, ngoài việc không bước chân ra khỏi sứ quán, tôi cũng không được hoặc không nên liên lạc với bên ngoài bằng điện thoại. Tôi không gửi điện, chỉ nhận điện từ bên ngoài. Anh em sứ quán để tôi trò chuyện khá lâu là cách ứng xử tế nhị, thân thiện. Bởi họ có thể cắt, ví dụ trả lời, ông Ngọc vắng mặt...

191Trong 5 ngày sau cùng ở Tokyo, ngoài sự náo động về vụ Xá, còn xảy ra một sự náo động còn lớn hơn, gây lo ngại lớn hơn, lần này là ở trong nước, mà chỉ sau khi về nước tôi mới được biết. Đó là thông tin: Ông Ngọc biến mất ở Nhật Bản.

SỰ THẬT VỀ TIN ĐỒN "ÔNG NGỌC MẤT TÍCH Ở NHẬT BẢN"

Tôi chỉ được tin này sau khi về nước. Tin gây lo sợ, hoảng hốt cho gia đình. Tụy Phương đã tìm gặp nhiều anh ở Ủy ban như Lê Khắc, Nguyễn Văn Kha để hỏi thực hư. Họ không biết gì khác ngoài một tin Bộ Ngoại giao nhận từ Sứ quán ở Bangkok:

"Chúng tôi được Sứ quán Tokyo thông báo, có ông Nguyễn Xuân Ngọc đi chuyến bay ngày... tới Bangkok, đề nghị Sứ quán cho người đón tại sân bay, và báo ngay cho Bộ Ngoại giao để Bộ thông báo cho gia đình ông Ngọc. Chúng tôi đã ra ga đón, nhưng không có ai mang tên ấy, chỉ có đoàn công nhân từ Tokyo về nước"

Tin này, Sứ quán ở Bangkok không báo lại cho Sứ quán ở Tokyo, còn Sứ quán ở Tokyo cũng không hỏi lại Sứ quán ở Bangkok.

Nguyên nhân bắt đầu từ chuyện anh Du ở Sứ quán biết tin một giáo sư Việt Nam sang Nhật dạy ngôn ngữ Việt trong ba tháng đã hết hạn đang chuẩn bị về nước. Anh nảy ra ý kiến bố trí để tôi cùng về nước với giáo sư nọ 192thì chắc chắn, an toàn hơn là đi với số rất đông công nhân dệt. Thế là tôi phải ở thêm vài ngày nữa ở Tokyo. Có điều là anh Du sơ suất không báo lại với anh em công nhân, cũng không đính chính với Sứ quán ở Bangkok. Chắc hẳn anh hí hửng với sáng kiến mới của mình nên quên bằng những gì anh đã nói với anh em công nhân cũng như với Sứ quán ở Bangkok.

Anh em Sứ quán ở Bangkok được cử đi đón ông Nguyễn Xuân Ngọc thì cho biết: Không thấy ông Nguyễn Xuân Ngọc xuống sân bay, anh em hỏi các công nhân thì họ nói: có gặp cán bộ sứ quán báo cho biết có một ông tên là Nguyễn Xuân Ngọc cùng về với đoàn, đề nghị chú ý giúp đỡ để bảo đảm an toàn. Nghe giới thiệu vậy thôi, chứ không hề được nhìn thấy ông Nguyễn Xuân Ngọc, nhưng họ vẫn tin ông Nguyễn Xuân Ngọc có mặt lẫn trong số công nhân. Rốt cuộc, nguồn gốc tin đồn là sự trục trặc thông tin qua lại giữa hai Sứ quán.

Tin này cũng gây ra một sự náo động, bàn tán râm ran trong một số cán bộ trong Viện khi biết tin. CVT nói: - Không thể ngờ, đến một người như anh Ngọc mà lại có thể như thế.

Hoàng Ước phản ứng ngay:

- Tôi không tin anh Ngọc lại xử sự như người ta có thể nghi ngờ, có điều gì trục trặc đây, hãy đợi có thêm 193Phần đông tỏ vẻ lo lắng, thông cảm. Nếu anh Ngọc mất tích thì có hai khả năng: hoặc là tự nguyện bỏ nước ra đi (như CVT ngờ vực), hoặc là bị bắt cóc để khai thác tin (như số đông cán bộ của Viện lo lắng).

thông tin.

Bên Chính phủ cũng có một số đồng chí quan tâm, lo ngại. Anh Võ Nguyên Giáp chất vấn:

- Tại sao cử anh Ngọc đi Nhật? Ai cử đi? Đi làm gì? Một đồng chí bên Văn phòng Thủ tướng kể, có lần Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đã 23 giờ đêm còn bảo đồng chí Nguyễn Tiến Năng - thư ký, gọi điện thoại đến gia đình hỏi thăm:

- Anh Ngọc đã về chưa?

Người đi đón tôi tại sân bay là anh Hùng - Viện phó - tỏ vẻ rất phấn khởi, nhưng không hở tí gì về những tin đồn. Chỉ khi tôi về đến Viện, trước không khí vui mừng chưa từng thấy trước đây mỗi khi tôi đi công tác nước ngoài trở về, tôi mới rõ tình tiết oái ăm của câu chuyện. Mới về chưa kịp hàn huyên với anh em thì hai cán bộ xuất nhập cảnh đã ngồi đợi sẵn xin gặp. Tôi đành miễn cưỡng tiếp họ. Họ là cơ quan quyền lực cuối cùng xét duyệt xuất nhập cảnh, nên rất lo sợ trước việc Xá chạy trốn vào Sứ quán Mỹ ở Tokyo xin được di cư đến Mỹ. Họ đề nghị cho biết tình tiết về chuyện đó.

Quả thật, giai đoạn công tác cuối cùng của tôi tại Nhật Bản không ngờ lại xảy ra nhiều náo động rắc rồi đến thế!

194CÔ BẠN KYOKO

Sau một tuần ở Nhật, một buổi tối, Dũng rủ tôi và Xá đi thăm một gia đình người Nhật. Ngoài bà chủ nhà góá chồng còn trẻ, vài phụ nữ đang chuyện trò trong lúc chờ đợi. Họ đứng lên đón khách. Chúng tôi chào nhau theo phong tục Nhật, đứng ngay ngắn, tay buông thẳng, cúi gập người. Nếu một người chủ động chào lần nữa thì người kia cúi thấp đầu đáp lễ. Đó là nghi thức ứng xử truyền thống của văn hóa Nhật Bản, tỏ sự trân trọng, mến khách.

Chắc hẳn Dũng là người bạn thân quen của chủ nhà và những người có mặt nên họ đón tiếp chúng tôi giản dị, chân tình như gặp những người bạn cũ, trò chuyện qua Dũng phiên dịch, vui vẻ, cởi mở, đầm ấm. Rồi Dũng đứng lên nói, theo anh kể lại, là đề nghị một ai đó tình nguyện hướng dẫn hai đứa tôi nhận biết phố xá không bị lạc đường, tham quan danh lam, thắng cảnh, mua thực phẩm, vật dụng, đồ lưu niệm, v.v. Không khí sôi nổi hẳn lên, mọi người râm ran cười nói, bàn tán, đùn đẩy lẫn nhau, rồi nổi lên những tiếng cười ầm ĩ, các bàn tay đồng loạt chỉ vào một cô gái ngồi giữa nhóm. Cô này rối rít xua tay, lắc đầu nguây nguẩy. Nhưng cuối cùng cô cũng vui vẻ chấp nhận, trong một tràng vỗ tay và những tiếng 195muộn, kể cả phụ nữ, họ muốn dành tuổi đang sung sức để học tập, nâng cao trình độ, thăng tiến trong lập nghiệp, tạo vị thế xứng đáng trong xã hội, độc lập và bình đẳng trong gia đình. Cô là một người trong số đó. Vóc tầm thước, thân hình thon thả. Cô không đẹp, khuôn mặt không hẳn tròn, cũng không hẳn trái xoan, nét hơi thô, nhưng bù lại, luôn ánh lên sự tươi vui, rắn rỏi, thẳng thắn, thân thiện, dáng dấp một cô gái khỏẻ mạnh, lanh lợi, nguồn gốc nông dân, nhưng không làm việc đồng áng, bàn tay không thô ráp.

cười giòn giã. Cô ở độ tuổi 35-40, ở ta coi là đã quá tuổi, lỡ thì, nhưng thế hệ trẻ Nhật Bản có xu hướng lập gia đình

Tôi nhanh chóng có cảm tình với cô, vì từ lúc này cô là bạn đồng hành của tôi trong những tháng ngày tôi sống và làm việc ở Nagoya. Sau này, tôi biết thêm cô có học thức, trình độ tiếng Anh thường thức, luôn mang theo cuốn từ điển nhỏ Anh - Nhật.

Cô làm việc ở một cơ quan công quyền thành phố. Cô tên là Kyoko, rất nhiều phụ nữ Nhật cũng mang tên này. Âm Kyoko gần giống với Kyoto, cố đô nổi tiếng, hơn 1.000 năm tuổi (794-1868) của Nhật Bản nên cũng dễ nhớ. Sau này, Kyoto còn nổi tiếng là nơi đã phát đi Nghị định thư giảm khí thải toàn cầu (protocole Kyoto).

Nhưng với cô, việc nhớ tên tôi và phát âm cho đúng là quá khó. Tôi phải viết tên bằng chữ Hán - đó là tất cả những gì còn nhớ được sau bao nhiêu tiết học chữ Hán ở cấp tiểu học và trung học - rồi giải thích ý nghĩa của các từ thì cô mới biết rõ tên tôi, nhưng phát âm thì vẫn lơ lớ người nước ngoài nói tiếng Việt. Cô rất thú vị phát hiện 196một điểm chung giữa hai nước là trong lịch sử đã từng chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa.

Trong thực tế, khi gặp nhau, khi trò chuyện, chúng tôi rất ít khi gọi nhau bằng tên, thường chỉ dùng cách xưng hô tiếng Anh: "I - you" có thể hiểu theo nhiều cách, biểu hiện những cung bậc tình cảm khác nhau, nhưng bao giờ cũng có một khoảng cách: "tôi - chị, tôi - cô, tôi - em, hay anh - em" (do khoảng cách tuổi tác, thứ bậc trong họ tộc)...

Mỗi tháng có hai tuần (2 ngày thứ bảy và 2 ngày chủ nhật) các học viên được tự do. Đó cũng là những ngày nghỉ của Kyoko. Cô dành tất cả những ngày nghỉ ấy cho tôi. Không chỉ có thế, cô còn dành cho tôi nhiều buổi tối khi có việc cần cô giúp đỡ, hoặc do cô gợi ý đi thăm một nơi nào đó trong thành phố.

Tuần lễ đầu đến Nagoya, Dũng thuê 3 phòng riêng cho ba người, phòng rộng, có đủ tiện nghi cho một gia đình, nhưng giá rất đắt. Dũng tìm thuê một căn hộ cho ba người ở chung, trong một chung cư của vùng ngoại ô đang xây dựng ở khá xa trung tâm. Từ cơ quan Liên hợp quốc, phải trải bộ vài ki-lô-mét, xuống xe điện ngầm đến ga cuối cùng, đi tiếp vài ki-lô-mét xe buýt mới đến nhà. Môt buổi tối, tôi về muộn, hơn 21 giờ mới rời ga xe điện, nơi đó cũng là bến xe buýt. Nhưng tại đây có nhiều ngả rẽ, tôi không nhớ đâu là hướng đúng, cũng không biết địa chỉ khu nhà, tôi hoàn toàn lạc lối. Quanh quẩn 197một lúc lâu, vẫn giậm chân tại chỗ. Đèn đường hiu hắt, tôi không dám mạo hiểm dấn bước vào vùng tối hun hút lạ lẫm. Chỉ còn cách chui vào ngủ vạ vật trong nhà ga. Nhưng đúng lúc đó đã 22 giờ đêm, nhà ga bắt đầu đóng cửa.

Phía xa xa có một buồng hình vuông na ná buồng điện thoại công cộng, nhưng lại là buồng quảng cáo "động ", bốn mặt lắp kính sáng choang, bên trong trưng tiên nữ",

bày hình ảnh các "tiên nữ" trang phục bikini trong những tư thế gợi cảm. Tôi đã từng gặp loại buồng này trong phố. Một thanh niên nấp đâu đó, thấy khách bộ hành đi tới gần, liền bất thần xuất hiện, giơ tay chỉ vào phía trong, ra sức mời mọc. Tôi đoán ở đó có một "động tiên". Những nơi này hoạt động hợp pháp, nhưng kín đáo, không có cảnh các cô õng ẹo lộ liễu trơ trẽn trên hè phố như thỉnh thoảng bắt gặp ở ta. Một lữ khách "giang hồ, hào hoa" có thể trú đêm trong động, nhưng tôi chỉ thoáng nghĩ tới đã đủ phát khiếp nổi da gà.

Cuối cùng, tôi chọn một góc khuất, ngồi tựa lưng vào tường, ứng tác một tư thế ngồi thiền, hai chân gập, hai bàn tay mở đặt trên đầu gối, tập trung tư tưởng, thở sâu và chậm, mắt lim dim, lơ mơ bước vào giấc mộng. Đúng lúc ấy, trong đầu bỗng bật lên một tia sáng: tôi chợt nhớ tới Kyoko. Cô đã tới thăm nơi ở mới của chúng tôi. Là người địa phương, cô có thể biết đích xác địa chỉ. Đây là hi vọng cuối cùng. Tôi chạy tới buồng điện thoại công cộng, gọi Kyoko.

198Đã 23 giờ khuya. Chắc cô đang ngủ. Đợi một lúc mới nghe tiếng cô. Tôi nói vội: "Tôi lạc đường, đang ở trước ga xe điện, trên bến xe buýt. Kyoko đến giúp tôi".

Tiếng hớt hải của Kyoko: "Anh đứng nguyên tại đó, tôi đến ngay".

Cũng phải đến 15-20 phút sau mới thấy một chiếc xe nhỏ do một người đàn ông lái tới đỗ trước mặt tôi. Kyoko ngồi phía sau, mở cửa xe, bước vội về phía tôi. Vẻ xúc động, cô nắm chặt hai bàn tay tôi, im lặng đắm nhìn tôi chốc lát. Cô rút khăn, quàng lên cổ tôi. "Cẩn thận, kẻo bị cảm lạnh".

Cô thì thầm: "Ông chú tôi đánh xe của ông đến đấy, anh đến chào ông một tiếng" và dắt tôi đến trước mặt ông. Tôi cúi chào, ông hạ kính cửa xe, cúi đầu chào lại. Cô đẩy tôi vào hàng ghế sau rồi vào theo ngồi cạnh, thì thầm: "Tiếng điện thoại đánh thức tôi khiến tôi giật mình. Chưa bao giờ ai gọi tôi trong đêm hôm khuya khoắt thế này, có gì khẩn cấp chăng? Khi nghe tiếng anh, tôi mới hơi yên tâm, nhưng cũng thấy hãi. Tôi cầu cứu ông chú, có việc cấp bách, phải nhờ chú giúp mới giải quyết được. Ông rất nhiệt tình. Đấy là chú ruột tôi. "Xe qua một cái cầu, cô dặn: "Anh nhớ cái cầu này, vật chuẩn để nhận đường".

Kyoko và ông chú tỏ ra rất thành thạo về đường sá ở vùng này. Xe chạy thẳng một mạch, dừng trên một bãi trống phía sau chung cư. Kyoko mở cửa xe bước xuống trước, đỡ tôi xuống và rỉ tai: "Anh nói lời cảm ơn ông 199chú". Cô đã nhắc nhở rất kịp thời một điều tôi suýt quên, một điều sơ đẳng mà rất hệ trọng, đó là bày tỏ sự tri ân với người vừa giúp tôi ra khỏi một tình thế khó khăn, mà nếu quên thì không thể tha thứ và sẽ mãi mãi ân hận. Tôi suýt quên, có lẽ vì tâm trạng vẫn còn phần nào bàng hoàng, rối trí. Ông chú đã xuống xe, tôi cảm ơn ông và từ biệt. Kyoko nắm cánh tay, đưa tôi đến chân cầu thang rồi mới chia tay. Kyoko thật là một cô gái nhạy cảm, tế nhị, lịch thiệp, chững chạc. Có lẽ, đó là một đặc trưng tính cách, phẩm chất của phụ nữ. Đó là một kỷ niệm ấn tượng về Kyoko.

Tối hôm sau, cô đến gặp tôi, để ghi địa chỉ của tôi vào quyển sổ tay nhỏ, dặn luôn mang theo người để đưa cho lái xe buýt hay taxi coi, họ sẽ đưa về tận nhà, không bị lạc đường nữa. Cô viết gần đầy một trang bằng chữ tượng hình của tiếng Nhật; chắc là, ngoài địa chỉ cô còn viết những lời dặn dò lái xe; rất chu đáo! Quyển sổ tay thành "vật bất ly thân", một "lá bùa hộ mệnh"!

Trang đầu của sổ tay in hình một cô gái Việt Nam. Cô ngắm nghía khá lâu, bỗng buông một câu: "Tôi hiểu tại sao anh "thích" (you like) các cô gái Nhật. Vì họ giống các cô gái Việt Nam!". Tôi không biết so sánh như vậy đúng hay không, điều đáng chú ý là cô có vẻ khẳng định tôi "thích" phụ nữ Nhật. Nhưng tôi chưa biết một ai khác ngoài Kyoko. Phải chăng cô nghĩ rằng tôi "thích" cô? Nếu đúng thế thì sinh chuyện rắc rối rồi! Phải xoá bỏ sự hiểu lầm này, nhưng phải rất tế nhị và từ tốn.

200Nhân ý kiến của Kyoko, tôi nhớ lại, ở Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám, có một câu nói khá phổ biến trong một số dân cư đô thị, về ước vọng cuộc sống: "ở nhà

'. Hâm mộ phụ nữ Nhật bởi

Tây, ăn cơm Tầu, lấy vợ Nhật".

trong tưởng tượng của họ, đó là hình ảnh những phụ nữ mặc kimônô, nhu mì, hiền hậu, phục tùng, chiều chồng! Mấy tháng trước khi sang Nhật, tôi tìm hiểu về xã hội Nhật Bản, mượn vài cuốn sách ở Thư viện Quốc gia phố Tràng Thi thì đều là những sách xuất bản từ những năm 1938 về trước, tác giả là người Pháp, có những thông tin như: người chồng là trụ cột trong gia đình nên được dành mọi ưu tiên, người vợ có vị thế thấp kém, phục vụ chồng vô điều kiện. Chồng đi làm về, vợ chuẩn bị bồn nước nóng, chồng tắm trước, vợ tắm sau trong chính cái bồn ấy với nước tắm thừa của chồng. Khi chiêu đãi khách, chồng ngồi ăn với khách, vợ phục vụ và ăn sau, không được ngồi cùng tiếp khách với chồng, v. v. Đó là chuyện về một thời kỳ lịch sử xa xăm, còn bây giờ là những năm 80 của thế kỷ XX, tôi không tin, một cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới lại lạc hậu về xã hội đến thế.

Theo quan sát của tôi, phụ nữ Nhật ngày nay đã giành được sự bình đẳng với nam giới, họ có việc làm, có thu nhập, không hoàn toàn phụ thuộc về kinh tế vào người chồng... Có một điều nữa: tôi có cảm tưởng vui vui, phụ nữ Việt Nam đẹp hơn phụ nữ Nhật. Trong thời kháng chiến chống Pháp gian khổ là thế, dân còn nghèo, lam lũ, vậy mà tôi đã gặp hai cô thôn nữ trẻ, đẹp đến mê 201hồn, mộc mạc mà hoàn hảo như những hoa khôi của núi rừng Việt Bắc. Một cô gặp trên đường Thanh Sơn, một cô là phụ tá trong trạm chữa răng của bác sĩ Nguyễn Dương Hồng trên một đỉnh đồi dốc đứng ở Vũ Ẻn (Phú Thọ). Trong hơn 3 tháng trên đất Nhật hòa bình và giàu có vào bậc nhất thế giới, tôi chưa gặp một cô gái nào như thế. Tất nhiên, đó là nhận xét chủ quan, cảm tính và mang dấu ấn ngẫu nhiên, nhưng tôi vẫn tin, phụ nữ Việt Nam đẹp không thua kém phụ nữ bất cứ nước nào trên thế giới.

Ba người chúng tôi ở chung với nhau, nhưng đi, về không cùng một lúc, và nhiều khi theo những cung đường khác nhau, vì mỗi người đều có những nhu cầu và sở thích riêng. Xá thường lỉnh đi một mình, thành thử chẳng khác nào tôi bỗng nhiên có riêng một hướng dẫn viên tình nguyện, chuyện khó tin! Tuy vậy, thường ngày, tôi tự lo liệu cuộc sống, Kyoko chỉ phải bỏ công sức, thì giờ giúp tôi trong những ngày nghỉ và vài buổi tối. Thế nên lại xảy ra một lần nữa lạc đường, nhưng lần này tôi tự xoay xở được không phải cầu cứu Kyoko.

Một buổi chiều, hội nghị kết thúc sớm, tôi rẽ vào một siêu thị mua vài thứ, khi ra về thì gặp cảnh người tấp nập vào lúc tan tầm của trường học và công sở. Ở thành phố này, cũng như ở Mát-xcơ-va, ai cũng rảo bước, đi 202lại trên đường rất nhanh, lúc nào cũng như vội vã, hối hả, không mấy ai chậm rãi, như nhàn tản dạo phố. Đặc trưng của lối sống công nghiệp và đô thị chăng?

Dòng người nườm nượp đổ về ga xe điện ngầm. Tôi bước vào ga.

Ở Mát-xcơ-va, mỗi ga sang trọng, quý phái như một lâu đài, được trang trí hoành tráng bằng những bức tranh nghệ thuật, những pho tượng, hay tượng đài, theo những đề tài đặc thù cho từng ga, như một bảo tàng mỹ thuật thu nhỏ, ghế băng là những tấm đá hoa cương. Mỗi nhà ga có một cửa vào, có một hay hai tầng thông nhau bằng cầu thang máy kiểu băng chuyền, mỗi tầng là một tuyến đường.

Ở Nhật, các ga được thiết kế giản dị, dân dã, không trang trí cầu kỳ, tốn kém. Một đặc điểm nữa khác với Liên Xô là một số lớn tuyến là do tư nhân đầu tư và kinh doanh. Nơi tôi đang đứng là khu vực ga trung tâm tàu điện ngầm rộng lớn, thiết kế mở, thông với phố, không tường bao, không cổng ra vào. Mặt đất và trên không đều có một dãy tuyến đường song song, các toa tàu chạy đan xen như mắc cửi, với tốc độ chóng mặt, chỉ đỗ dừng một phút. Dũng kể một hai năm đầu ở Nhật, anh vẫn còn nhầm lẫn, mãi sau anh mới dần dần nắm được lộ trình của từng tuyến. Còn bây giờ, tôi sắp lạc vào mê cung!

Tôi quay ra phố. Đây là giờ tan tầm, mọi người hồi hả, rảo bước trở về nhà. Họ đi rất nhanh, như chạy. Tôi 203giơ cuốn sổ tay ghi địa chỉ cho một người đàn ông, nhờ chỉ dẫn, anh ta chỉ liếc mắt, lắc đầu và tiếp tục "chạy". Người đàn ông thứ hai cũng phản xạ y như vậy. Thử tìm vận may với phụ nữ vậy! Một cô gái trẻ đang thoăn thoắt bước tới. Tôi cho cô xem địa chỉ. Cô ra hiệu cho tôi đi theo cô. Tôi bám theo cô trở lại mê lộ tầu điện ngầm. Tôi theo chân cô trèo lên một toa tàu vừa cập bến. Cô chỉ cho tôi một chỗ ngồi gần chỗ lên xuống, còn cô thì đứng như nhiều người khác, tay giơ cao nắm một vòng sắt treo dưới mái. Tàu đi rất êm và rất nhanh, đã qua một chặng đỗ. Sắp đến chặng đỗ thứ hai, cô ra hiệu bảo tôi đứng lên, đi đến gần cửa, chuẩn bị xuống ga. Tàu đỗ, tôi bước xuống ga và theo hướng cô chỉ, bước về phía cửa ga. Tôi quay đầu lại nhìn, tàu bắt đầu chuyển bánh, cô đang dõi theo tôi. Tôi cảm thấy cô có vẻ yên tâm thấy tôi đi đúng hướng. Tại cửa ga là một siêu thị hai tầng, tôi đảo một vòng trên lầu hai, nhưng không thấy gì đáng mua làm quà cho vợ. Ra khỏi ga, tôi gọi taxi, chạy 4-5km thì về tới nhà.

Vậy là hai lần lạc đường đều may mắn có phụ nữ Nhật dẫn đường, chỉ lối. Đàn ông Nhật ít cởi mở, phụ nữ Nhật trái lại rất thân thiện, nhiệt tình giúp đỡ khách lạ.

Nhật Bản áp dụng chế độ làm việc 5 ngày một tuần, nghỉ ngày thứ bảy, chủ nhật. Mỗi tháng, cứ hai tuần một lần, trung tâm tổ chức tham quan dã ngoại tập thể, 204sáng thứ bảy đi, chiều chủ nhật về, nơi xa nhất khoảng 500km. Còn lại hai tuần, tức là 4 ngày, mỗi ngày 3 buổi (sáng, chiều, tối) tức là 12 buổi, 3 tháng có 36 buổi học viên hoàn toàn tự do. Phạm vi thời gian tôi có thể nhờ cậy Kyoko như thế là khá rộng và linh hoạt về giờ giấc. Nhưng không muốn lạm dụng lòng tốt của cô, tôi luôn thận trọng cân nhắc, chỉ đưa yêu cầu giúp đỡ khi thật cần thiết để tránh xâm phạm quá nhiều thời gian nghỉ ngơi và cuộc sống riêng tư của cô. Tôi chỉ liên lạc với cô qua điện thoại, không thóc mách đời tư của cô, không bao giờ tự tìm đến nhà cô (mà thật ra tôi không biết và cũng không tìm hiểu), chỉ cô mới thường đến gặp tôi tại nơi trú ngụ.

Kyoko rất chủ động, tích cực, những lần cùng đi với nhau phần nhiều do cô đề xuất, chẳng khác nào một hướng dẫn viên du lịch. Đó là lẽ tất nhiên, chỉ "thổ công" mới biết mọi ngõ ngách thành phố, những nơi đáng tham quan, chiêm ngưỡng.

Trong ba tháng ở Nagoya, có tới hơn hai chục lần cùng đi phố. Phải nói ngay rằng, quan hệ giữa chúng tôi rất nghiêm túc, ngay thẳng. Tôi luôn giữ ý tứ, thận trọng vì nhiều lẽ.

Một là, tôi là một ông già 59 tuổi, Kyoko là một thanh nữ ở tuổi 35 hay hơn một chút (ấy là tôi đoán thế, vì hỏi tuổi một cô gái là bất lịch sự, ít nhất cũng là thiếu tế nhị. Tôi nhớ, năm 1937, Charlie Chaplin, nghệ sĩ điện ảnh "vua hề" nổi tiếng thế giới, cùng với vợ đến thăm Hà Nội, 205ở khách sạn Métropole. Một phóng viên gặp phỏng vấn họ. Anh ta hỏi cô vợ bao nhiêu tuổi. Hôm sau, một tờ báo khác phê phán anh phóng viên nọ là rất bất lịch sự, theo văn hoá châu Âu, đàn ông không hỏi tuổi phụ nữ. Giữa tôi và Kyoko có khoảng cách tuổi tác một thế hệ!

Hai là, tôi cần giữ tư cách đứng đắn, vả lại còn "quan trên trông xuống, người ta trông vào". Tôi ghét, sợ những môi "tình" tạm bợ, đây là phạm trù đạo đức.

Ba là, tôi cảnh giác, vì chuyện một nữ điệp viên Nhật Bản nổi tiếng trong thế chiến thứ nhất, chuyện này đã lên phim (Sau này, khi tôi đã về nước, anh NĐ cũng nói với vợ tôi là Nhật Bản giỏi sử dụng phụ nữ làm điệp viên quốc tế, phải cẩn trọng đề phòng).

Một buổi tối, Dũng dùng xe riêng chở tôi và Xá cùng đến thăm một gia đình Nhật Bản ở xa trung tâm. Dọc đường, Dũng dừng xe vào một cửa hàng mua thịt bò và một số thực phẩm khác. Bà chủ nhà là một phụ nữ trạc 50 tuổi, chồng mới mất hơn một năm, bàn thờ nhỏ đặt ở góc phòng ngoài, có điều lạ là đặt trên nền nhà, như bàn thờ thổ công tại nhiều cửa hàng ở Hà Nội. Ngoài chủ nhà, một bà hàng xóm và Kyoko cũng đang đợi chúng tôi. Dũng đi ngay vào bếp, cùng người bạn gái, con một của bà chủ, đang hì hụi trong đó, sửa soạn bữa cơm thết khách.

206Phòng ăn cũng là phòng khách nối liền và ngăn cách với phòng bếp bằng một cái tủ, trang bị giản dị với chiếc bàn dài và hai ghế băng. Chúng tôi vừa ăn vừa trò chuyện. Kyoko phiên dịch cho tôi, sau đó là uống trà. Theo phong tục Nhật Bản, pha trà và uống trà là một nghi thức rất trang trọng. Bà chủ nhà trịnh trọng đứng lên, tay trái cầm một tách trà cho mình, tay phải đưa một tách trà mời tôi cùng uống. Theo đề nghị của mọi người, chủ nhà và khách "quý" (là tôi) ra đứng cạnh tủ cùng uống để chụp ảnh kỷ niệm.

Dũng giới thiệu cô con gái bà chủ hiện là giáo viên âm nhạc trong một trường tiểu học, đề nghị cô chơi nhạc. Xá chủ động hát bài Diễm xưa, cô đệm đàn trên chiếc dương cầm đặt trong phòng khách. Bà chủ nhà nói, chúng tôi rất thích bản nhạc này. Lần đầu tiên, tôi "gặp" Trịnh Công Sơn trên đất Nhật.

Những ngày đầu đến Nagoya, tôi đã thấy tiếng tăm của Đặng Thái Sơn đang nổi lên như cồn. Đặng Thái Sơn mới đoạt giải nhất cuộc thi âm nhạc quốc tế Chopin ở Ba Lan khi đang là sinh viên Học viện Âm nhạc Traikopxki Liên Xô (trước đây). Kyoko đưa tôi xem một tờ gấp bằng tiếng Nhật quảng bá hình ảnh Đặng Thái Sơn tập dương cầm trong hầm chữ A. Kyoko dịch lời chú thích của bà giáo sư trưởng đoàn thí sinh Nhật tại cuộc thi Chopin: "Trước khi sang Liên Xô du học, Đặng Thái Sơn đã luyện 207tập dưới bom rơi, đạn lạc trong chiến tranh ác liệt ở Việt Nam như thế này đây, để cuối cùng đạt tột đỉnh vinh quang. Người Nhật chúng ta nghĩ gì?"

Tờ gấp cũng thông báo tháng 7/1981, Đặng Thái Sơn sẽ đến Nagoya biểu diễn.

Một buổi tối, theo đề nghị của tôi, Kyoko đến từ lúc còn nhập nhoạng, dẫn tôi đi xem nơi bán đồng hồ đeo tay. Tôi định sẽ mua một chiếc làm quà cho vợ và một chiếc cho tôi. Đây là một đường phố dài, rộng dành cho người đi bộ, đèn sáng choang, một bên là dãy cửa hàng bán đủ loại đồng hồ, một bên là bức tường dài. Biết tôi là người Việt Nam, chủ một cửa hàng đồng hồ liền hồ hởi khoe đã mở cửa hàng ở Sài Gòn nhiều năm trong thời kỳ chiến tranh Mỹ - Việt Nam. Tôi hẹn sẽ tới mua đồng hồ của ông.

Kyoko dẫn tôi tới nhà hát lớn của thành phố, nơi Đặng Thái Sơn sẽ biểu diễn. Chúng tôi chậm rãi đi dọc nhiều đường phố. Đèn đường không sáng lắm. Tiếng đài phát thanh từ đâu đó vọng lại. Kyoko dừng bước, bảo tôi: "Anh nghe, bài hát của các anh". Tôi lắng nghe. Trong yên ắng của đêm đã bắt đầu về khuya, vang lên giọng trầm, trong trẻo, gợi cảm rất đặc biệt của Khánh Ly. Đó là bài Diễm xưa của Trịnh Công Sơn. Nhiều người cho rằng, hát Trịnh Công Sơn thì cho đến nay chưa ai sánh được Khánh Ly. Người ta cũng đồn rằng, một tình bạn trong sáng gắn bó hai nghệ sĩ trong nhiều năm, Trịnh Công Sơn đã sáng tác nhiều ca khúc dành cho Khánh Ly biểu diễn. Nghe nói, Khánh Ly đã di tản ở Mỹ. Đây là lần thứ hai tôi được nghe 208Diễm xưa trên đất Nhật. Người dân Nhật có vẻ rất thích bài này.

Nhà hát Lớn Nagoya là một khối đồ sộ, sừng sững trong bóng tối. Lối lên sảnh là một dãy hàng chục bậc thang xây, rộng khoảng ba mét, tổng chiều cao khoảng bốn mét. Kyoko bảo tôi trèo dăm bảy bậc rồi đứng nhìn xuống đường để cô chụp vài bức ảnh kỷ niệm, lấy nhà hát làm nền. Sau đó, chúng tôi vào một tiệm ăn bữa tối. Khoảng 21 giờ, chúng tôi ra về, cô tiễn tôi đến tận nhà rồi mới chia tay.

Hôm sau, Kyoko đến từ sáng sớm, tặng tôi những bức ảnh đã chụp ở nhà bà mẹ cô bạn gái của Dũng, ảnh chụp trước nhà hát lớn, chụp ban đêm mà vẫn rõ nét. Kyoko đưa tôi đi xem Sở bưu điện thành phố, nơi cô làm việc. Cơ quan đóng cửa nên chỉ quan sát mặt tiền. Đường dẫn lên tầng chính là một cầu thang cao, nhiều bậc xây xi măng. Cô bảo tôi trèo lên lưng chừng cầu thang, rồi chụp ảnh.

Sau đó, Kyoko dẫn tôi tham quan một ngôi chùa lớn, kiểu kiến trúc phía ngoài na ná như ở ta, nhưng cao hơn, khang trang hơn. Phía trong có một khác biệt rõ là các phòng xây thành một dãy trải dài thành một đường viền. Sân rất rộng, yên tĩnh, khách tham quan có thể thảnh thơi nhàn tản hoặc tìm một chỗ ngồi thiền, tập trung tinh thần vào nội tâm, trút bỏ mọi ưu phiền thế gian.. 209Khách vãng cảnh chùa hôm ấy thưa thớt. Tôi chứng kiến một nghi thức Phật giáo cũng phổ biến ở Việt Nam, đó là xóc thẻ đoán mệnh.

Chùa rất đẹp và hoành tráng đáng được coi là một biểu tượng nổi bật của Nagoya.

Rời chùa, tôi mời cô cùng đi ăn trưa. Cô đưa tôi trở về ga xe điện ngầm, chúng tôi chia tay.

Hồi đó điện thoại di động chưa ra đời, để liên lạc với Kyoko tôi gọi từ nhà hoặc từ trạm điện thoại công cộng tới số điện thoại của Kyoko tại nhà hoặc tại công sở; ngược lại Kyoko chỉ có thể gọi đến nhà, hoặc nhắn tin qua điện thoại cơ quan Dũng.

Một tối, Kyoko gọi tôi: "Dũng báo ngày mai, thứ bảy, anh đi tham quan tập thể 2 ngày ngoài Nagoya. Đến nơi anh gọi điện cho tôi nhế".

Tối hôm sau, từ một thành phố cách Nagoya hơn 400km, tôi báo tin cho Kyoko. Định nói ngắn thôi, không ngờ chuyện kéo dài không biết bao nhiêu phút mà nhân viên khách sạn trực điện thoại tỏ vẻ ngạc nhiên và thu của tôi khá nhiều tiền. Kyoko hỏi nhiều về cảm tưởng của tôi về đất và người nơi tôi mới đến.

210Một buổi chiều, vào lúc tan tầm, Kyoko đợi tôi trước cửa Trung tâm UNCRD rồi cùng tôi đi siêu thị lớn của thành phố. Chúng tôi lên gác bằng cầu thang đi bộ. Tôi đi trước, Kyoko theo sau. Bỗng Kyoko hỏi: "Chắc anh có nhiều kinh nghiệm về tình yêu?" Một câu hỏi bất ngờ! Quá rộng và rất tế nhị! Thực chất Kyoko muốn biết điều gì? Tôi tảng lờ như không nghe thấy, lặng thinh bước tiếp.

Tôi không dừng lại lâu, chỉ lướt qua 5 tầng lầu rồi xuống tầng hầm, nơi bán thực phẩm, để xem quang cảnh siêu thị. Thành phố đã lên đèn. Tôi chợt buột miệng hỏi: "Sao Kyoko không dẫn tôi thăm nhà để tôi chào hỏi ông bà?"

Kyoko thực hiện ngay. Cô vào trạm điện thoại gọi về gia đình, gọi taxi. "Hơi xa đấy" Kyoko nói. Xe dừng trước một ga xe lửa ở ngoại ô. Kyoko chụp vài bức ảnh. Khoảng 7-8 km đến bến. Một chiếc ô tô tải hạng nhẹ đã đợi sẵn đưa chúng tôi về nhà Kyoko. Đây là vùng nông thôn. Vậy là tôi đã đoán đúng trong lần đầu gặp Kyoko.

Vào nhà, tôi ngạc nhiên và lý thú khi gặp lại kiểu nhà sàn miền núi Việt Bắc. Điểm khác biệt là không có bếp đặt giữa nhà (một đặc trưng của nhà sàn ở ta), mặt sàn rất rộng mà hoàn toàn phẳng và trống, không vạt đặt cao để làm giường, không tấm ngăn phòng, không đồ đạc... Trên mặt bàn gỗ đặt trên sàn đã bày sẵn thức ăn. Món ăn chủ yếu là bún, cùng vài món khác tôi không 211biết tên. Chỉ có 4 người: ông bố, bà mẹ, Kyoko và tôi ngồi xếp chân ngồi quanh mâm, có lẽ Kyoko là con một. Tôi chuyện trò với gia đình qua phiên dịch của Kyoko. Không có gì nhiều, chỉ là những thăm hỏi thông thường, vì bất đồng ngôn ngữ. Khoảng 21 giờ, tôi ra về. Kyoko đưa tôi về trên chiếc xe tải nhỏ, lần này do Kyoko lái, ông bố ngồi sau trên thùng xe. Tôi hơi hoảng - "Kyoko biết lái xe à?" - "Tất nhiên là biết" - "Biết lái lâu chưa?" - "Lâu rồi" - "Sao không để ông lái?" - "Để cho con gái và bạn trai của nó được tâm sự thoải mái, thân mật, chứ còn sao nữa", cô vừa nói vừa cười, vẻ giễu cợt. "Yên tâm, tôi lái xe nhiều rồi". Xe đến bến, Kyoko tiễn tôi lên tàu, đợi tàu chạy rồi mới trở lại nhà.

Từ nhà đến nơi làm việc của Kyoko khá xa, ít nhất cũng 10-15 km mỗi lượt đi, về, đi bộ vài ki-lô-mét, đổi phương tiện hai, ba lần. Ở đây giao thông đi lại thuận tiện, nhanh chóng hơn ở ta nhiều, nhưng không phải không vất vả. Mỗi lần đến đưa tôi đi đâu là thêm một đoạn đường, nhiều khi cũng khá dài, và tốn không ít thì giờ, mà lẽ ra Kyoko có thể nghỉ ngơi, hoặc đọc sách, hoặc giải trí, du ngoạn...

Đã hứa với bạn Dũng thì phải làm, làm tự giác, đến nơi đến chốn, đối với người cần hướng dẫn thì chu đáo, chân tình, đó là phẩm chất của Kyoko, tôi không thể không cảm kích và cảm ơn cô. Bữa thăm đó giúp tôi hiểu thêm về Kyoko. Từ bữa đó, mỗi lần Kyoko đến, tôi coi đó 212không chỉ đơn thuần là thực hiện một lời hứa với Dũng, mà đồng thời là viếng thăm tôi như thăm một người bạn. Một tình bạn đã bắt đầu nảy nở.

Một buổi sáng, bất ngờ Kyoko đến nhà thăm, tặng tôi một bó hoa, đặt trên bàn làm việc và bảo tôi ngồi cạnh bàn chụp một bức ảnh khá đẹp. Đây là một trong những ảnh tôi chọn in Chứng minh thư. Tôi thật sơ suất, kém "galant", chưa hề nghĩ tặng hoa cho Kyoko! Hôm sau, tôi tức tốc tìm mua hoa tặng Kyoko. Chợt nhớ, Bác Hồ ứng xử rất tế nhị với phụ nữ.

Kyoko rủ tôi đi dạo phố. Kyoko dẫn tôi đến tham quan một nhà kính trồng hoa, chọn vị trí hai người đứng cạnh nhau rồi đưa máy cho một khách đi qua chụp hộ một kiểu.

Chúng tôi dạo trong một công viên, thỉnh thoảng ngồi nghỉ ngắm cảnh. Trong công viên treo nhiều băng-rôn quảng bá cho tỉnh Nagoya ứng cử đăng cai Thế vận hội vào năm tới (Thành phố Nagoya là thủ phủ của tỉnh Nagoya). Chúng tôi cùng ăn trưa ở tiệm.

Có lần Kyoko hỏi tôi về số tiền Trung tâm chi cho chúng tôi. Nghe tôi nói, cô trầm ngâm bảo: "Vậy là cao gấp mấy lần tiền lương tháng của tôi. Các anh hần là viên chức cao cấp". Tôi cười. "Chúng tôi chỉ là những cán 213bộ bình thường; trong số học viên, có không ít giáo sư đại học; nhưng mọi người đều hưởng trợ cấp như nhau".

Kyoko còn đưa tôi tham quan nhiều nơi nữa trong thành phố và ngoại ô. Một lần đi gần cả ngày đến cuối buổi chiều. Chúng tôi ghé vào một nhà hàng ăn tối. Đến lúc uống cafê, Kyoko đột nhiên nhắc lại câu hỏi cũ: "Chắc anh có nhiều kinh nghiệm về tình yêu?"

Tôi ngồi trước mặt Kyoko nên không thể giả vờ không nghe, không biết. Kyoko đang háo hức muốn nghe tôi. "Kyoko nói thật nhé, Kyoko đã yêu lần nào chưa?" tôi hỏi. Kyoko ngập ngừng: "Có.., à mà chưa. Mới có chút quyến luyến, nhưng chưa phải là yêu! Bây giờ hết rồi"

"Sẽ có ngày cô gặp một người nào đó khiến cô xúc động, dạt dào tình cảm, cô thấy không thể sống thiếu anh ta, sẵn sàng dành cả tâm hồn và thể xác cho anh ta, gắn bó suốt đời với anh ta, thì đó là lúc tình yêu đã tới. Cô cần nắm lấy cơ hội. Nhưng nên chú ý, đừng rơi vào những say mê mù quáng, cần tỉnh táo, tình yêu chân chính, bền vững cần có cả yếu tố lý trí. Tôi chỉ có thể nói thế thôi, nhưng đó là ý kiến một "người cổ". Chỉ Kyoko mới tự mình chiêm nghiệm được"

Cô cảm ơn và nói: "Tôi sẽ sang Việt Nam thăm anh" và xin địa chỉ.

214"Tôi sẵn sàng đón tiếp cô ở Hà Nội". Tình cảm của cô chân thành.

Còn 10 ngày nữa lớp học sẽ kết thúc. Phần lớn học viên đi Trung Quốc, một số không đi Trung Quốc thì lên Tokyo, trong đó có tôi. Một ngày trước khi chúng tôi rời Nagoya, Kyoko chủ động đến nhà sửa soạn đồ giúp tôi. Hôm sau, Kyoko tiễn tôi ra sân bay. Sau khi thủ tục đã hoàn tất, chúng tôi ngồi với nhau một lúc. Kyoko nhắc lại sẽ sớm sang Hà Nội thăm tôi. Kyoko dõi theo khi tôi bước lên chiếc xe đưa khách ra chân cầu thang máy bay. "Cảm ơn Kyoko, chào Kyoko, hẹn sẽ có ngày gặp lại", đó là ý nghĩ cuối cùng của tôi trên đất Nagoya.

Những ngày ở Nagoya, giữa tôi và Kyoko đã nảy sinh tình cảm bạn bè trân trọng và nghiêm túc. Tôi luôn giữ một khoảng cách, không vượt qua ranh giới tình bạn. Tôi không bao giờ đặt tay lên người Kyoko, khi cùng đi trên đường, không bao giờ nắm tay hay khoác tay nhau. Càng về sau, tôi cảm nhận càng rõ chân tình và sự tận tụy của Kyoko. Những giúp đỡ của Kyoko trong sinh hoạt đời thường không có gì đặc biệt quan trọng, nhưng không được coi thường, không thể không thấy đó là những hi sinh cần phải tri ân".

215Về Kyoko, những sự ân cần, chăm sóc của cô biểu hiện lòng mến khách, vốn là một phẩm chất truyền thống từ xa xưa của người Nhật Bản, biểu hiện một tình bạn chân thật, ngay thẳng, ấm áp, nhưng cũng chưa đến mức nghĩa nặng, tình sâu. Chuyện Kyoko muốn đến Việt Nam thăm tôi cũng là chuyện bình thường.

Có một buổi tối, khoảng 19 giờ, một cô bạn gọi điện báo sắp đến thăm Dũng. Cô bạn là con một của một gia đình ở cách Nagoya chừng 400km. Dù đêm khuya, đường xa, cô vẫn xin phép bố mẹ đi thăm bạn chỉ vì nhớ bạn, chỉ thăm tối ấy rồi sáng sớm hôm sau quay về.

Tầm 21 giờ, cô gái tới. Cô khoảng 25 tuổi, người thấp bé dưới mức trung bình của phụ nữ Nhật Bản, vui vẻ, giản dị, mạnh bạo, tự tin. Rõ ràng là đối với cô, đến thăm Dũng tại nhà là chuyện bình thường trong tình bạn trong sáng. Tôi nghĩ đó là phong cách của thanh niên thời hiện đại. Dũng đã có vợ đang học master ở Tokyo, có quan hệ bạn bè rộng, nghiêm túc với nhiều gia đình người Nhật và các bạn gái.

Thành thật mà nói thì khi tiễn biệt, tôi - và chắc Kyoko cũng vậy - đều thấy quyến luyến, nhưng là sự quyến luyến giữa những người bạn tốt đã sát cánh nhau trong nhiều tháng, chứ không phải chuyện xa vời vợi là tình yêu.

216Đầu tháng 7 tôi về nước. Hơn một tháng sau, buổi trưa, khi tôi từ cơ quan về đến nhà, Tụy Phương dẫn tôi tới bàn làm việc, bảo: "Sáng nay bưu điện cùng một lúc đưa tới ba bức thư đề tên anh và xuất xứ từ những nước khác nhau". Tôi xem phong bì, và lướt qua các thư. Đó là thư viết tiếng Anh, của Karim gửi từ Afghanistan, Kyoko từ Nagoya, cô bạn người Philippines từ Manila.

Chiều về, tôi đọc các thư, nhất là đọc kỹ thư hai cô bạn. Cô Philippines kể, được chồng đón tại ga, nói niềm vui gặp lại chồng, con sau một thời gian mà cô thấy "dài bằng mấy thập niên"! (sự ví von thi vị hoá!); kể kỷ niệm đẹp với bạn gái đến từ Băng-la-đét với Karim, và một vài bạn khác; ấn tượng tốt đẹp về cảnh và người; sự xúc động đến nao lòng khi thăm phòng bảo tàng những nạn nhân của bom nguyên tử ở Nagoya, khi thăm thành phố Hiroshima... Thư cũng nhắc một chuyện vui: Những ngày ở Tokyo, tôi tới thăm cô Philippines và cô Bangladesh cùng ở trong một khách sạn. Cô Philippines đề nghị tôi hát một bài, cô ghi âm để khi về nước sẽ được nghe lại giọng hát của tôi. Tôi hát bài Thiên Thai (Văn Cao) hai cô cùng nghe; nhưng không may, máy chưa lắp cátxét! Cô nói, đến bây giờ cô vẫn rất tiếc không được nghe lại tiếng nói và giọng hát của tôi.

Thư Kyoko kể những tâm tư, ước mơ phảng phất màu sắc lăng mạn, mà thường người ta chỉ nói với một người bạn tâm tình. Cô chỉ nói những kỷ niệm về những lần cô và tôi gặp nhau, hay cùng đi với nhau. Cô khẳng 217định sẽ thực hiện cái điều mà cô gọi là "lời ước hẹn" sẽ đến Hà Nội gặp tôi, đó cũng là một cuộc du lịch "đầy ý nghĩa" trong thời gian sắp tới. Tóm lại, những trang viết của Kyoko chứa đựng những tình cảm mặn mà, chân thật. Tôi hiểu Kyoko cần chia sẻ, và tìm người có thể tin cậy, yên tâm giãi bày.

Khoảng giữa tháng 8, tôi lại nhận một lúc hai thư, của Karim và Kyoko. Kyoko báo đã nhận được thư, nhắc lại kỷ niệm Nagoya với giọng thanh thản, nhắc lại lời hứa tôi sẽ đón tiếp cô khi cô tới Hà Nội gặp tôi, và báo sẽ tới Hà Nội khoảng đầu tháng 9.

Vài ngày sau tôi phải vào thành phố Hồ Chí Minh giảng bài. Định từ đó gửi thư trả lời. Bất ngờ, tôi gặp cô Minh, vợ Dũng ngay tại khách sạn Cầu Vồng (Arc-en-ciel). Lớp học đặt trên tầng 3, cô Minh đang lên tầng 2 dự một tiệc cưới. Chúng tôi mừng rỡ, chỉ kịp nói với nhau vài câu thăm hỏi ngắn ngủi, hẹn gặp lại ngày hôm sau cũng tại đây.

Cô Minh cũng thuộc diện hưởng học bổng du học Nhật Bản một năm sau Dũng. Hai gia đình quen biết nhau, đã đồng ý cho hai bạn tổ chức lễ cưới trước khi Dũng xuất dương. Minh học Master (thạc sĩ) ở Tokyo và đang thực tập tốt nghiệp. Hai người chưa có con. Minh là cô gái trẻ xinh đẹp, dỏng cao, nhã nhặn, cởi mở, nhanh nhẹn, giọng đặc chất Sài Gòn, chưa pha giọng Bắc như Dũng. Cô có lần đến Nagoya ở với chồng vài ngày, lo cơm nước cho tất cả chúng tôi. Lần này, Minh về thành phố 218Hồ Chí Minh để lo giấy tờ đưa hai bên bố mẹ và chị cả của Dũng sang Nhật định cư.

Đêm, tôi viết thư cho Kyoko, chưa bao giờ thấy khó viết như lần này. Quan trọng nhất là thuyết phục mà không xúc phạm tình cảm và lòng tự trọng của cô. Cân nhắc mãi cuối cùng viết được một trang vở học sinh, đại ý:

"Kyoko thân mến, những ngày tháng ngắn ngủi ở Nagoya, tôi đã may mắn được quen biết Kyoko, đã hình thành một tình bạn vô tư, trong sáng, để lại trong tôi một kỷ niệm đẹp, và tôi chắc với Kyoko cũng vậy. Chúng ta hãy trân trọng, giữ gìn kỷ niệm ấy. Nhưng Kyoko ạ, hãy nghe tôi. Kyoko đang còn trẻ, đừng nhìn lại phía sau, hãy hướng về phía trước, ở đó một tương lai tươi đẹp, hạnh phúc đang đón chờ bạn.

Tôi đang làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh, sau đó sẽ đi khảo sát làm việc với các tỉnh, thành phố khác ở Nam Bộ cho đến tháng 10, tiếp theo sẽ là chuyến công du ở Pháp. Tôi thành tâm chúc Kyoko gặp mọi sự may mắn trên đường đời..."

Hôm sau, cô Minh gặp tôi. Tôi đưa thư cho Minh xem và nói chuyện khá lâu. Tôi đề nghị Minh trao thư tận tay cho Kyoko, và chuyện trò kỹ để cô ấy hiểu tôi và không buồn phiền, yên lòng để những gì thuộc về dĩ vãng nằm yên trong dĩ vãng. Minh cần hết sức tế nhị khi trò chuyện với Kyoko. Minh nhận lời ủy thác của tôi, hứa sẽ 219thực hiện như tôi mong đợi. Minh là môt phụ nữ nhạy cảm và nghiêm túc. Tôi yên tâm, thanh thản.

Ba năm sau, Dũng về thăm Hà Nội, ở nhà cô Ngô Kiều Oanh, con gái ông Ngô Tấn Nhơn, giáp nhà tôi. Anh sang thăm tôi báo Kyoko đã lấy chồng.

Mấy năm sau, Dũng lại về thăm Hà Nội. Anh đã ly dị người vợ cũ, lấy một phụ nữ Nhật, đã có một cháu bé xinh xắn, in hình làm biểu tượng cho một tập lịch ấn hành ở Nhật.

Trong mấy ngày Tết Kỷ Sửu", tôi đọc lại để sửa lần cuối bài viết, lại nhớ Kyoko với tình cảm tri ân đằm thắm, mong muốn tìm tin tức về cô. Muốn thế, phải liên lạc với Dũng. Vừa may, Ngô Việt Trung và Ngô Mỹ Giang đến thăm hỏi, chúc tết. Trung cho biết, Dũng làm ăn lớn ở thành phố Hồ Chí Minh. Tôi rất mừng, hỏi cô Oanh số điện thoại của Dũng, và tiếp xúc ngay với Dũng. Dũng nói không liên hệ với Kyoko từ hai chục năm nay, và hỏi tin tức về Xá. Tôi không có tin gì về Xá, có thể vẫn lưu lạc trên đất Mỹ hoặc đâu đó ở nước ngoài.

Đó là một kỷ niệm đẹp, êm đềm về đất nước Nhật Bản.

(* Ngày Thứ hai, 26/1/2009, là ngày Mồng một Tết Nguyên đán Kỷ Sửu.

220ẤN TƯỢNG NHẬT BẢN

Những ngày đầu tôi luôn lạ lùng, choáng ngợp vì trình độ công nghệ cao của Nhật Bản. Tôi luôn tự nhủ: Đây là một nước châu Á.

Mấy ngày đầu tiên, điều tôi ngạc nhiên và thích thú nhất là máy tính điện tử bỏ túi nhỏ, lọt thỏm trong lòng bàn tay. Tại các cửa hàng, nhân viên bán hàng nào cũng dùng để tính tiền và chìa cho khách mua hàng xem. Trong khi đó ở Việt Nam, để làm các phép tính đơn giản nhất, cộng, trừ, nhân, chia, Viện chúng tôi cũng như các vụ khác trong y ban đều dùng loại máy cơ học sản xuất tại Liên Xô, Cộng hòà Dân chủ Đức, cồng kềnh, có tay quay, to bằng 1/4 máy in điện tử đi kèm máy vi tính hiện nay; mà cũng không có đủ; ba, bốn cán bộ nghiên cứu dùng chung một máy.

Ở Nhật, máy tính bỏ túi rẻ và rất phổ biến, bà nội trợ nào cũng dùng, học sinh nào cũng có thể dùng. Khoảng tháng 5, xuất hiện loại máy tính bỏ túi cao cấp, bán kèm một cuốn sách chỉ dẫn cách dùng để giải quyết các thuật toán về kỹ thuật, công nghệ. Karim mua một máy, dùng thử, tỏ ra rất phấn khởi. Tôi cũng mua một chiếc. Tháng 6, con trai đang học tiến sĩ ở Liên Xô về nước nghỉ hè, tôi tặng nó, nó bảo máy này dùng cho kỹ sư.

Ở Nhật, hầu như không thiếu một thứ hàng công nghiệp dân dụng nào và đều rất tinh xảo, chứng tỏ một trình độ năng suất lao động cao, trình độ công nghiệp hóa cao với công nghệ hiện đại, luôn sáng tạo và đổi mới.

221Chúng tôi được tham quan nhà máy sản xuất ôtô Toyota. Gọi là nhà máy, thực ra gần như một thành phố hạng trung, có phố xá nhà cửa rộng rãi, ngăn nắp, khang trang. Chúng tôi được dẫn vào một xưởng sản xuất khuỷu động cơ ôtô. Chỉ có máy và một công nhân. Công nhân chỉ đứng quan sát, có hỏng hóc gì thì sửa, còn thì máy làm mọi việc cho đến khi hoàn thành sản phẩm, hoàn toàn tự động hóá.

Người ta thông báo sẽ có những sản phẩm công nghiệp mới. Sẽ ra đời một loại máy ảnh mới, sản xuất theo những quy tắc và quy trình công nghệ mới, khác hẳn loại máy ảnh cũ. Đó là máy ảnh kỹ thuật số sẽ xuất hiện trên thị trường vào khoảng cuối năm 1981.

Đồng hồ đeo tay hay đồng hồ to treo tường cũng thế. Dự kiến cuối năm, máy truyền hình màu sẽ thay thế máy truyền hình đen trắng... Tốc độ đổi mới công nghệ nhanh đến chóng mặt.

Song, sau ba tháng sống ở Nhật Bản, ấn tượng sâu sắc nhất rút cuộc lại là văn hóá Nhật Bản và người dân Nhật Bản.

Trong những ngày nán lại tại sứ quán ở Tokyo, một buổi tối, có một người cũng đến tạm trú để chờ mua vé trở về Việt Nam. Đó là anh Tiến khoảng trên 50 tuổi, tiến sĩ nông nghiệp cũng lần đầu đến Nhật sau tôi vài ngày để thực hiện chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học. 222Sáng hôm sau, tôi bảo anh bạn:

- Anh cũng như tôi lần đầu đến đây. Chúng ta thử trao đổi, sau hơn ba tháng, chúng ta có những ấn tượng gì nổi trội nhất về đất nước và con người Nhật Bản.

Anh đồng ý nhưng không nói gì vội, anh thận trọng ra đóng cửa phòng thông ra hành lang mà nhân viên sứ quán thường qua lại. Khi quay về giường một chiếc nệm trải trên sàn nhà - anh nói:

- Thận trọng không bao giờ thừa. Bây giờ chúng ta có thể yên tâm nói thẳng, nói thật với nhau ý kiến của mình mà không sợ lộ cho nhân viên sứ quán biết, đề phòng có ai đó hiểu lầm chúng ta rồi phê phán bừa bãi, ví dụ như bảo chúng ta ăn phải bả của chủ nghĩa tư bản! Nhớ đến tai anh em ở nhà thì cũng có thể gây phiền toái, lại phải đính chính dài dài... Một kinh nghiệm xương máu của tôi đấy, khi đi tham quan, làm việc.... tại một nước tư bản!!". Anh đề nghị, mỗi người viết một chữ vào tờ giấy rồi trao cho nhau xem (như trong truyện Tam Quốc, Khổng Minh và Chu Du bàn kế diệt quân Tào, hai người đều viết một chữ Hỏa trong lòng bàn tay, mở ra cho nhau xem và cả cười!).

Anh Tiến ghi trong mảnh giấy: Trung thực.

Tôi ghi: Ngay thẳng và kỷ luật.

Ở đây dường như không có tệ nạn trộm cắp. Tôi hỏi một thanh niên Nhật Bản làm việc ở Trung tâm: - Có đúng vậy không?

223Anh trả lời: - Đúng, từ thời Minh Trị, bọn ăn cắp, ăn trộm đã bị chặt tay hết rồi.

Tôi hiểu, đó là cách nói cường điệu, dí dỏm.

Chúng tôi thuê một căn nhà ở chung ba người tại vùng ngoại ô. Một bữa, tôi ra khỏi nhà sau cùng. Đến khi bước vào lớp mới chợt nhớ quên khóá cửa. Giờ nghỉ giải lao, tôi gặp Dũng: "Có lẽ tôi phải về trông nhà". Dũng trấn an: "Không ai vào nhà lấy trộm đâu, anh yên tâm!". Quả thế thật. Từ đó, tôi và Xá có cảm giác rất yên bình trên đất nước này.

Dũng kể, có một lần, khi dọn nhà đến nơi ở mới rất chật hẹp nên phải tạm bỏ lại chiếc xe đạp. Anh cất xe vào một ngách phố gần đó. Vài ngày sau, anh trở lại xem thì xe vẫn ở nguyên chỗ cũ, không ai đụng đến, nhưng có một tờ giấy dán trên yên xe, ghi số tiền phạt vi phạm trật tự công cộng, chủ của nó phải đem nộp tại sở cảnh sát. Dũng bóc tờ giấy, rồi chuyển xe đến một ngách khác cũng gần đó!

Từ căn gác chúng tôi ở nhìn xuống tầng dưới thấy ngoài sân có một môtô không biết của ai để đó đã từ lâu, ở đâu vẫn ở nguyên đó. Mọi người qua lại hằng ngày nhưng không ai đụng đến, dù chỉ để đưa vào một chỗ kín đáo hơn. Người dân không chỉ tôn trọng quyền sở hữu mà còn tôn trọng sở thích riêng của chủ nhân.

Ở trung tâm thành phố có một siêu thị lớn 5 tầng bán các hàng công nghiệp và một tầng hầm bán thực 224phẩm tươi sống và thực phẩm khô có hai lối vào, ra. Có thể vào một cửa và ra cùng một cửa, hoặc vào một cửa và ra một cửa khác. Người vào siêu thị có thể cầm theo một túi xách đựng những đồ dùng riêng của mình. Đó là hai điều khác biệt so với các siêu thị ở nhiều nước khác. Như ở Nga chẳng hạn, trước khi bước vào khu vực các quầy hàng, khách hàng gửi túi xách tập trung một chỗ, chỉ vào tay không; khi mua hàng, trả tiền xong thì đem đến chỗ gửi túi xách để cất rồi ra về; vào và ra siêu thị theo một cửa duy nhất.

Tôi thỉnh thoảng vào siêu thị này, khi từ trụ sở cơ quan Liên hợp quốc trở về nhà. Tôi mang theo một cặp đựng tài liệu, sách vở, lên hết tầng này đến tầng khác để chọn mua hàng. Ở mỗi tầng, để khỏi mang xách nặng, tôi để cặp ở đầu cầu thang, mua hàng xong, tôi xách túi hàng, cầm lại cặp rồi lên tầng trên, lại để cả cặp lẫn túi hàng ở đầu cầu thang để rảnh tay đi chọn mua hàng... Cứ thế, rồi ra về, rất yên tâm, không cần kiểm tra lại các túi hàng, tin chắc không suy suyển gì.

Chỉ chừng ấy thôi cũng đủ chứng tỏ người Nhật ngay thẳng, trung thực, thật thà. Đó là cơ sở để tạo nên sự tin cậy lẫn nhau giữa người và người, và sự gắn kết trong cộng đồng. Đó là đạo đức, là nền móng, là tiêu chí hàng đầu để xây dựng một xã hội văn minh đích thực.

- Người Nhật có tinh thần giúp đỡ người nước ngoài hay không?

225Bằng vào kinh nghiệm trong mấy tháng trên đất Nhật, tôi chỉ có thể khẳng định phụ nữ Nhật Bản rất sẵn sàng, sốt sắng giúp đỡ người ngoại quốc. Còn đối với nam giới thì tôi dè dặt hơn, tạm chưa có ý kiến gì. Tôi có hai lần lạc đường, lần đầu tí nữa phải ngủ vỉa hè trong rét mướt mùa đông, lần thứ hai suýt nữa thì vạ vật cả đêm trong mê cung của một nút đường metro thành phố. Cả hai lần đều may mắn được một phụ nữ giúp đỡ thoát nạn.

- Tinh thần kỷ luật cao. Họ có ý thức bảo vệ nghiêm ngặt, tuyệt đối không xâm phạm tài sản công cộng, đặc biệt là quý trọng cây xanh. Mùa hoa anh đào nở rộ vào khoảng tháng năm, không ai nỡ ngắt hoa, vặt cành. Đó là một biểu hiện của thái độ tôn trọng môi trường thiên nhiên, sống hài hòà với thiên nhiên.

Kỷ luật tự giác rất cao trong lao động, viên chức, công nhân không có cấp trên giám sát cũng vẫn lao động hết mình, với ý thức trách nhiệm cao, coi hoàn thành nhiệm vụ là niềm tự hào, là vấn đề danh dự. Tôi từ Tokyo đến Nagoya rồi lại từ Nagoya trở lại Tokyo đều đi tàu Shinkansen cao tốc 180km/giờ, trên đường khổ hẹp như của ta, mà tàu chạy rất êm, không như tàu Bắc Nam của ta, lúc cao nhất cũng chỉ đạt tốc độ trên dưới 40km/giờ, mà rung bần bật, và rất ồn ào, bánh xe sắt nghiền đường ray cứ rít ầm ĩ liên tục, bắt nhịp đều đều bởi những tiếng "khực khực" đặc trưng, khi bánh xe nghiến các mỗi nối các thanh sắt trên đường. Nghe kể, nền đường sắt có 226đoạn thi công không tốt, phải phá đi xây lại, người kỹ sư thi công đoạn đường đã chuộc lỗi bằng cách tự tử.

Họ tôn trọng trật tự công cộng. Họ rất có ý tứ, đi lại rất nhanh, không nói to, không gọi nhau í ới ầm ĩ. Vào lúc tan tầm, đường phố đông đúc như ngày trẩy hội, nhưng không ồn ào quá mức, người người đi như chạy, chỉ nghe những tiếng sột soạt liên tục của giầy dép chạm vỉa hè lát gạch. Ở những bến đỗ của xe điện ngầm, trật tự được duy trì rất tốt. Hành khách bước khỏi xe điện, ra xe, lặng lẽ tiến đến trước mặt bạn, bạn chỉ còn việc mở cửa bước vào xe. Cũng lưu ý các bạn là ở đây ô tô lưu thông trong thành phố không được bấm còi. Đó là một biện pháp để giữ môi trường được trong sạch, tốt lành, không bị ô nhiễm bởi tiếng ồn.

- Trong thời gian tá túc, tôi không gặp người ăn mày nào, trừ một lần ở ngoại ô. Đó là một bà già đứng tuổi, ngồi im lặng trước một cửa hàng bán thực phẩm, trước mặt đặt một cái bát nhôm đựng những đồng tiền từ thiện của khách vãng lai.

Trên đây là những cảm tưởng rõ rệt nhất sau thời gian ngắn ở Nhật Bản, ghi lại làm kỷ niệm, với hy vọng bạn đọc sẽ quan tâm tìm hiểu và kiểm tra, may ra có thể rút ra những bài học bổ ích gì chăng?

227Chương 8

KÝ ỨC VỀ THẦY, VỀ BẠN

THẨY ĐẶNG THAI MAI MỘT TẤM LÒNG NHÂN ÁI

Ở trường tư thục Thăng Long đến năm thứ ba Cao đẳng Tiểu học (E. P. S) thì tôi được thầy Đặng Thai Mai, thầy dạy môn Pháp văn (văn học Pháp) một trong mấy môn chính quan trọng nhất. Ấn tượng đầu tiên trong tôi về lần đầu lên lớp của thầy là sự nghiêm nghị, có phần khắc khổ, đồng thời là một cái gì đó hơi khác lạ trong cách giảng bài của thầy. Thầy đi thẳng vào chủ đề, bình giảng các mạch văn, luận giảng nội dung trong sự phong phú đa nghĩa và chiều sâu của bài, rồi sau đó nói về sự chuẩn xác, cái hay, cái đẹp của ngôn từ, của một đoạn văn tiêu biểu... Tôi hơi ngỡ ngàng, mặc dù chỉ hiểu được một phần những gì thầy muốn truyền đạt, song vẫn bị hấp dẫn mạnh mẽ pha chút cảm tưởng mơ hồ là mình đã bắt đầu bước lên một bậc mới, với một trình độ và những yêu cầu cao hơn hai năm trước.

Cùng với thời gian, tôi dần cảm thấy mình phần nào hiểu được cái gì đã tạo nên sức thu hút của thầy. Đó là sự uyên bác, thâm thúy, tinh tế, sự hiểu biết sâu sắc về 228văn chương, văn học, sự nhạy cảm với cái đẹp, cái cao thượng cũng như với cái tầm thường thấp hèn (khi ấy, thầy có giọng châm biếm, mỉa mai). Cách giảng của thầy không phải là nêu ra một khuôn mẫu để học sinh tiếp nhận thụ động, mà gợi mở cho học sinh những suy tưởng và rung cảm, tự mình khám phá cái đẹp của Văn, phát triển những ý tưởng mới. Và trên tất cả những điều đó, là một tâm hồn trong sáng và cao thượng. Học trò cảm thấy rất gần gũi với thầy, không chỉ kính trọng mà còn rất yêu mến thầy.

Năm thứ ba ở trường Thăng Long, gia đình tôi gặp khó khăn chỉ trả học phí một tháng đầu, sau đó không lo nổi tiền học cho tôi nữa. Tôi ở nhà, chép lại bài của bạn, tự học. Tôi vẫn làm bài đều đặn, nhờ bạn nộp cho thầy và cầm về bài thầy đã chấm với số điểm và lời phê. Các bạn cho biết, mặc dù tôi vắng mặt, một số bài của tôi vẫn được thầy đọc cho cả lớp nghe với những lời khen (và tất nhiên có những lời chê). Tôi rất mừng và vô cùng cảm động. Tôi biết thầy làm thế không phải vì ưu ái đặc biệt với tôi, mà là để khích lệ các học trò của thầy trong đó có tôi, đào sâu suy nghĩ và sáng tạo. Đầu tháng sau, tôi đến lớp độ nửa tháng, rồi lại nghỉ, cứ thế cho đến gần hết năm. Tuy nhiên, về sau thấy ngượng ngùng nên tháng cuối cùng tôi nghỉ hẳn, không được dự buổi liên hoan tạm biệt của thầy và trò.

Một ngày hè, qua một bạn học, thầy nhắn tôi đến gặp thầy tại nhà. Lần đầu được gặp riêng và nói chuyện với thầy, tôi cảm nhận một cách trực tiếp sự chân tình 229giản dị của thầy, nó xóa đi sự ngại ngùng, e dè dễ có của trò với thầy thuộc hai thế hệ khác nhau. Thầy hỏi tôi về hoàn cảnh gia đình, chỉ dẫn về học tập trong thời gian nghỉ hè, những tác phẩm nên đọc... bảo tôi thỉnh thoảng đến gặp thầy.

Trước lúc chia tay, thầy bảo tôi làm đơn xin miền học phí đưa cho thầy. Thầy nói tôi không cần học tiếp năm thứ tư Cao đẳng Tiểu học như thường lệ mà chuyển thẳng lên Tú tài. Tôi học tiếp hai năm không gặp trắc trở gì và từ giã trường sau khi thi đỗ Tú tài phần thứ nhất. Năm năm học ở trường Thăng Long, trong đó có ba năm được thầy Đặng Thai Mai dìu dắt là một thời tốt đẹp của tuổi thanh niên và cuộc đời tôi. Nó ươm mầm và nuôi dưỡng sự trưởng thành của tôi về học vấn và tâm hồn, những khát vọng về lí tưởng, ý chí và nghị lực hoạt động cho sự nghiệp cách mạng công khai và bí mật, từ lúc còn học ở trường cho đến cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, và sau này đóng góp phần nhỏ bé của mình cho đất nước. Ôn lại những tháng năm ấy, tôi bồi hồi xúc động tưởng nhớ thầy với tấm lòng kính yêu và biết ơn vô hạn.

KỶ NIỆM NHỎ VỀ THẦY VÕ NGUYÊN GIÁP

Thuở thiếu niên, tôi học 5 năm (1935-1940) ở trường Trung học tư thục Thăng Long phố Ngõ Trạm, gồm 3 năm Thành chung (1935-1938) và 2 năm Tú tài (đến Tú tài phần thứ nhất). Sau này thầy Giáp cũng gọi đó là trường nghĩa thục, ý nói trường Thăng Long tiếp nối 230truyền thống Đông Kinh Nghĩa Thục. Tôi được học thầy về môn lịch sử ở bậc Tú tài (1939-1940). Đầu năm 1940, thầy cùng với ông Phạm Văn Đồng bí mật sang Trung Quốc để gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tôi chỉ được gặp lại thầy ở Hà Nội sau ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 thành công.

Thời gian ấy, Tụy Phương và tôi đã dọn từ phố Chân Cầm đến ở nhà Hộ sinh Con Rồng (là ngôi nhà của các cụ thân sinh Tụy Phương) tại 127-129 phố Phùng Hưng. Nhà hộ sinh tạm thời ngừng hoạt động, bỗng chốc trở thành nơi đông đảo cán bộ hoạt động bí mật từ mọi nơi, có người từ Nam Bộ và miền Trung ra, ùn ùn kéo về hội tụ, vui cái vui chung của thiên hạ nhân ngày hội lớn, giải phóng đất nước, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Nhiều người ở lại dài ngày. Gia đình thầy Đặng Thai Mai ở trên gác một trong hai căn nhà của nhà hộ sinh.

Tụy Phương luôn tất bật lo liệu chu đáo việc ăn, ở, nghỉ ngơi của các vị khách quý, trong đó nhiều người là những đồng chí đã cùng nhau trải qua những hiểm nguy, gian khó trong hoạt động bí mật, nhiều người là bạn mới biết mà như đã quen, vì đồng tâm, đồng chí.

Một buổi trưa, có tiếng chuông reo. Tụy Phương ra mở cổng. Đó là anh Văn, bí danh và cũng là tên gọi thân mật của thầy Võ Nguyên Giáp. Thật bất ngờ, vì có tin anh đang chỉ huy đánh quân Nhật ở Thái Nguyên. Anh đến gặp gia đình thầy Mai. Anh bảo Phương: "Anh từ Thái Nguyên về, không rẽ vào đâu, đến thẳng đây, chưa ăn uống gì. Em mua cho anh một món gì đó...". Phương 231đến hiệu phở nổi tiếng ở phố chợ Hàng Da, mua phở bò xào mang về cho anh.

Từ lúc là học sinh tôi vẫn gọi thầy Võ Nguyên Giáp là anh. Khi anh là Đại tướng tôi gọi là anh Văn. Vì vậy, trong bài viết này, tôi vẫn giữ nguyên cách xưng hô ấy: thầy Võ Nguyên Giáp - anh Văn.

Khi tôi học năm dự bị Tú tài phần thứ nhất ở trường Trung học tư thục Thăng Long, thầy Võ Nguyên Giáp là giáo sư giảng dạy môn lịch sử. Học trò chúng tôi rất mê các bài giảng của thầy. Tôi nhớ một hôm, thầy giảng về cách mạng Pháp 1789 theo sách của tác giả Ma-chi-ê (Albert Mathiez). Thầy trích dẫn nhiều đoạn trong sách ca ngợi tinh thần đấu tranh anh dũng của những người tham gia cách mạng, gợi ý khéo để chúng ta liên hệ với các cuộc vận động cách mạng trong nước như phong trào Dân chủ thời kỳ ấy...

Năm 1941, sau khi đỗ Tú tài phần 2, tôi vào học trường Luật thuộc Đại học Đông Dương. Ngày khai trường, bài học đầu tiên là về Kinh tế chính trị, một trong những môn học chính trong chương trình đào tạo cử nhân luật. Người giảng bài là giáo sư Grêgoire Kherian. Giáo sư mở đầu bài giảng một cách độc đáo, bất ngờ. Sinh viên chờ đợi được nghe giới thiệu về ý nghĩa của Kinh tế chính trị là môn học rất mới với mọi người thì ông lại mở đầu bằng việc khen ngợi một sinh viên cũ của trường. Sinh viên đó 232lại chính là thầy Võ Nguyên Giáp. Ông dùng những lời tốt đẹp nhất ca ngợi người học trò cũ của ông trên giảng đường đại học. Ông nói rất hùng hồn, đĩnh đạc, chậm rãi, phát âm tiếng Pháp rất rành rẽ, mạch lạc, như cách nói của những người không phải gốc Pháp. Ông nói nhiều, tôi không nhớ được hết, nhưng vẫn nhớ câu nói rất ấn tượng ông nhắc đi nhắc lại: "Giáp là ngôi sao của những ngôi sao" (l'as des as). Tôi cảm thấy tự hào về thầy Giáp, và càng tin đã chọn đúng ngành (ngành luật), đúng nghề (nghề luật sư).

Mùa hè năm 2002, tôi được anh Trần Việt Phương đưa đến gặp thầy tại nhà để tặng thầy cuốn Hồi ký Lê Tụy Phương mới xuất bản, tôi kể lại chuyện này, thầy tỏ vẻ rất vui.

Một bạn trẻ, anh K. M. S, có nhã ý chuyển cho tôi một tư liệu về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhan đề: "Giáp thậm chí đã có một kế hoạch chống bom". Nội dung bài ấy như sau:

"Chúng tôi càng đợi, thất bại của họ càng lớn". Tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: ông biết là sẽ dài, rất dài, thậm chí ông đã chuẩn bị cả một kế hoạch cho trường hợp người Mỹ "Hung Nô của thế kỷ XX" sử dụng bom nguyên tử. Không bao giờ, không một lúc nào ông nghi ngờ sự chiến thắng cuối cùng và hoàn toàn. Ông nhắc đi nhắc lại: Không một thế lực nào trên thế giới có thể ngăn 233cản 30 triệu người Việt Nam thực hiện khát vọng thiêng liêng xây dựng nước Việt Nam thống nhất và độc lập.

Tại Hà Nội ngày thứ năm, Giáp xuất hiện trước công chúng trong bộ quân phục màu xám, dự lễ chào mừng chiến thắng mà ông chờ đợi từ 1945. Với ông lúc đó, cuộc chiến đấu này đã kéo dài 51 năm, bởi từ khi 14 tuổi, đang học ở trường trung học Huế, ông đã đấu tranh cho chủ nghĩa dân tộc.

Người ta đã nói đầy đủ về thiên tài quân sự của ông, ông biết sử dụng các chiến thuật chiến tranh du kích cũng như các sư đoàn thiết giáp. Nhưng trước hết ông là một tướng lĩnh chính trị. "Nghệ thuật quân sự mà không có chính trị là cây không có rễ", Hồ Chí Minh đã nói như vậy. Giáp đã đặt tất cả sự tin tưởng vào tinh thần dũng cảm, sự tận tụy, sự chịu đựng gan góc, bền bỉ, tính kỷ luật và lòng tin vào chiến thắng của binh sĩ Việt Nam. Kẻ thù cũ của ông, tướng Raoul Salan, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, ngày thứ tư ở Paris, bày tỏ lòng cảm phục ông như sau: "Quân đội của Giáp là bộ binh giỏi nhất thế giới."

Ngay dưới bài viết trên là 2 tấm ảnh chụp hình, đặt cạnh nhau, ảnh bị mờ, nhưng vẫn nhận ra được người trong ảnh.

23444.30
Ảnh thứ nhất (từ trái sang) là quang cảnh hội trường
trường Luật, ghi hình giáo sư và sinh viên trong năm học
1934-1935 (từ trên xuống dưới, từ trái sang phải):

Hàng trên cùng: Phan Mạnh Hân, Đỗ Đức Dục, Lê Hữu Tân, (x), Lê Văn Trà, Huỳnh Văn Phương, Ngô Huy Vân. Hàng 2: Nguyễn Khắc Bằng, Bùi Hòe Thục, Võ Nguyên Giáp, Ngô Ngọc Định, Nguyễn Văn Kiên, (x), Bùi Quang Khánh.

Hàng 3: Lê Hữu Phan, (x), Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Lê Giang.

Hàng 4: Trương Thừa Uyên, Phạm Gia Kính, (x), Lý Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Thành Vĩnh, Đinh Văn Gia, Vũ Văn Hoàn.

Hàng cuối các giáo sư: Levasseur, Couzinet, Camerlynck (Hiệu trưởng Trường Đại học Luật), Kherian, Demmory.

235(Chú thích: 1. (x) là không nhớ tên. 2. Không có tên các anh Vũ Văn Hiền và Vũ Văn Huyên, vì thuộc khóa trước)

Ánh thứ hai chụp tướng Võ Nguyên Giáp mặc quân phục,
đội mũ cát, đứng lẫn giữa đông đảo bộ đội, vẻ mặt rạng rỡ,
tươi cười trong ngày chiến thắng

Dưới hai bức ảnh là bản sao chụp hai tài liệu. Tài liệu thứ nhất ố, mờ, chỉ còn tương đối rõ mấy chữ: Trường Cao đẳng Luật, năm học 1934-1935, ngoài ra không thể đọc được gì hơn. Tài liệu thứ hai là bức thư đề: Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 1935, dưới ký Võ Nguyên Giáp, nội dung chỉ có thể đọc lõm bõm dăm mười chữ, chắc là giải trình việc chậm trả học phí. May mắn là dưới hai tài liệu trên, có một đoạn chú giải:

236Đó là "Bản nhận xét khen ngợi của một giáo sư về Giáp"

"Giáp đã thuyết trình về "bảng cân đối kết toán (balance des comptes) của Đông Dương". Một bản trình bày xuất sắc về một đề tài ít người hiểu biết. Rõ ràng, có phương pháp, và cả nhân cách. 17 điểm. Sinh viên Giáp chậm nhận được tiền của bố mẹ gửi ra để trả học phí nên viết thư xin lỗi nhà trường".

Thầy Giáp học Luật trong thời gian nào? Gần như chắc chắn là trong các năm 1934-1935, năm thứ nhất, 1935-1936, năm thứ hai, 1936-1937, năm thứ ba, cũng là năm tốt nghiệp cử nhân Luật. Có một tài liệu ghi là: Còn một năm thứ tư, dạy luật tài chính và hướng dẫn hành nghề luật sư. Giáp bận việc riêng nên không dự.

Năm 1979, thầy Võ Nguyên Giáp (thời kỳ này đang là Phó Thủ tướng, phụ trách những vấn đề khoa học kỹ thuật) tổ chức một cuộc khảo sát quy mô lớn vùng Tây Nguyên để từ đó đề xuất với Trung ương đường lối khai thác Tây Nguyên trong tầm nhìn dài hạn. Anh đề nghị tôi cùng lên Tây Nguyên với anh. Tôi từ chối vì đang quá bận. Đây là lần thứ hai tôi từ chối lời đề nghị của anh. Anh nói: "Bận gì thì bận, Ngọc cũng có thể thu xếp đi một chuyến chứ!" Tôi đành gác mọi việc để đi theo anh, ngồi máy bay riêng của anh cùng vào Đắk Lắk.

237Anh Văn mời tôi vào phòng khách nhỏ của máy bay chuyện trò. Tôi tâm sự với anh:

- Trung ương hay có ý kiến đột xuất, bỗng nhiên nghĩ ra một vấn đề quan trọng nào đó, thế là giao cho chúng tôi nghiên cứu, hạn cho hai, ba tháng nộp bài. Vấn đề thì mênh mông. Chỉ nội việc tìm hiểu thực tế và sưu tầm tài liệu thống kê thôi đã đủ ốm người, nhất là tình hình miền Nam Còn phải tham khảo ý kiến các Bộ, các nhà khoa học, các nhà chuyên môn nữa chứ. Cuối cùng thì cũng phải nộp bài đúng hạn thôi, nhưng tôi buộc phải nói thật là không đáp ứng được yêu cầu rất cao của Bộ Chính trị là đưa ra quan điểm tổng thể về chiến lược phát triển kinh tế xã hội trên cả nước, kèm theo là phác họa tổng quát các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước. Tôi chỉ dám trình bày với Bộ Chính trị một số phương án kinh tế - xã hội có khả năng thực tiễn để lựa chọn. Tôi cũng mạnh dạn đưa ra ý kiến riêng về một số phương án có triển vọng nhất, nhưng cũng lưu ý Bộ Chính trị đó chỉ là những gợi ý ban đầu, chưa thể luận chứng chuẩn xác và đầy đủ về kỹ thuật và kinh tế.

Anh Văn cũng kể một số công việc đã làm. Anh luôn hỏi ý kiến anh Ba (đồng chí Lê Duẩn). Tôi biết đồng chí Lê Duẩn có vẻ coi thường tài năng quân sự của anh Văn, đôi khi còn nói công khai điều đó. Nhưng anh Văn khi nói tới đồng chí Tổng Bí thư lúc nào cũng tỏ ra trọng thị. Đổi với tôi, đó là một bài học về ý thức tổ chức, về sự khiêm tốn và tôn trọng lẫn nhau giữa đồng chí với đồng chí, giữ vững sự đoàn kết nhất trí trong Đảng.

238Đến Đắk Lắk, anh Y Ngông Niêk Đam, Chủ tịch tỉnh, tiếp anh Văn, bố trí anh Văn một chỗ nghỉ riêng cùng với người thư ký riêng, tôi nghỉ ở Phòng khách UBND, cùng chỗ với anh Y Ngông và vài người khác. Anh Y Ngông và chúng tôi là bạn thân quen từ sau ngày Cách mạng Tháng Tám. Lúc đó anh còn rất trẻ, gặp nhau và nhanh chóng thân nhau vì tính tình bộc trực, thẳng thắn. Đến chiều hôm trước, sáng hôm sau bước vào Hội nghị do anh Văn phối hợp với UBND tỉnh cùng tổ chức và chủ trì. Họp được một ngày thì ngay ngày hôm sau, xảy ra một sự kiện nghiêm trọng.

Ba giờ sáng, đồng chí thư kí riêng của anh Văn, tên là T gọi tôi dậy và thông báo:

- Biên giới phía Bắc có xung đột lớn.

4 giờ sáng, T lại đến thông báo:

- Chiến tranh biên giới phía Bắc thật sự rồi. Không phải khiêu khích biên giới như mọi khi.

- Căn cứ vào đâu để đánh giá như thế?

- Địch sử dụng binh chủng phối hợp, có bộ binh, pháo binh, xe tăng, thiết giáp chỉ thiếu không quân.

Anh Văn xin vắng mặt một ngày để về Hà Nội, đề nghị Hội nghị cứ tiếp tục họp theo chương trình.

Tối, anh Văn quay lại Buôn Ma Thuột.

Sáng hôm sau tôi sang gặp. Anh Văn cho biết đã gặp các đồng chí Bộ Chính trị: "Tôi mừng là các đồng chí Bộ 239Chính trị rất khỏe mạnh, tỉnh táo, sáng suốt, họp hằng ngày hai lần, sáng chiều để theo dõi tình hình chiến sự". Hội nghị họp một tuần thì bế mạc. Anh Văn tiếp tục đi Plâyku và Kon Tum. Tôi từ biệt anh Văn để vào thành phố Hồ Chí Minh công tác.

NHỚ VỀ ANH CẢ NGUYỄN LƯƠNG BẰNG

Cho đến năm 1944, tôi chưa được gặp anh Cả, chỉ biết tiếng anh với biệt hiệu Sao Đỏ khi đang học Trường Tư thục Thăng Long phố Ngõ Trạm. Sau này, được nghe câu chuyện ly kỳ, anh cùng một số đồng chí trốn khỏi nhà tù Sơn La, trải qua một hành trình đầy nguy hiểm, gian nan để trở về với cách mạng.

Lê Tụy Phương - vợ tôi, thành hôn năm 1943 - thì đã được biết anh từ trước, trong quá trình tham gia hoạt động cách mạng trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ và thời kỳ bí mật. Lần đầu tôi được gặp anh chính là lần anh gặp Tụy Phương để giao nhiệm vụ. Cuộc gặp diễn ra trong hoàn cảnh như sau:

Đầu tháng 4 năm 1944, để tránh bom Mỹ, Tụy Phương đưa gia đình sơ tán vào Hà Đông, ở nhờ trong xã Mỗ Lao, có chị Diệu Hồng cùng vào. Tụy Phương mở cửa hàng giải khát "Bách Hợp" ở đầu cầu vào thị xã để làm địa điểm liên lạc. Chị Lê Thu Trà, anh Vũ Oanh, chị Lê Thị Xuyến và một số đồng chí khác đã tới đây liên lạc, bàn công việc, nhận tiền quyên góp cho quỹ Đảng.

240Tụy Phương kể:

"Giữa năm 1944, một buổi sáng, tôi ngồi trông cửa hàng. Một người đàn ông trung niên bước vào, áo dài the đen, quần trắng, dép Gia Định, mũ cát trắng. Tôi nhận ra đồng chí Nguyễn Lương Bằng, biệt hiệu Sao Đỏ, anh em thường gọi bằng cái tên trìu mến - Anh Cả. Tôi biết đồng chí mới trốn khỏi nhà tù Sơn La cùng một số đồng chí khác. Tôi mời anh vào phòng trong, pha nước chanh mời anh, rồi gọi anh Ngọc đang ở trên gác xuống, giới thiệu với anh. Anh giao cho chúng tôi một tập tín phiếu của Bộ Tổng Việt Minh để vận động đồng bào mua ủng hộ cách mạng. Những lần sau, anh đến hoặc giới thiệu liên lạc đến nhận tiền và giao tín phiếu mới.

Anh Ngọc và tôi phân công nhau đặt tín phiếu. Lúc này, phong trào Việt Minh phát triển rất rộng, đâu đâu cũng nói tới Việt Minh, nhân dân rất tin tưởng, từ các nhà giàu có đến người dân bình thường đều hăng hái ủng hộ, nên việc bán tín phiếu có nhiều kết quả. Bán tín phiếu trở thành một trong những công việc thường xuyên của chúng tôi cho đến Cách mạng Tháng Tám"("). Sau lần gặp anh Cả ít lâu, một nhà tư sản đã vài lần quyên góp tiền ủng hộ Đảng, có ý muốn giao cho Tụy Phương một số thóc tương đối lớn để phơi khô và xay xát trả gạo cho họ, trả tiền công khoán theo số thóc. Chị băn khoăn, thóc lấy từ đâu, gạo cung cấp cho ai, làm việc này 241đúng hay sai, có phải là tiếp tay cho mật vụ làm ăn mờ ám, trái đạo đức, trong lúc nạn đói đang hoành hành? Chị gặp Anh Cả để xin chỉ thị.

(*) Lê Tụy Phương: Nghĩa tình năm tháng cuộc đời - Hồi ký, Nxb. Phụ nữ, 2002, tr.126.

Anh Cả nói:

- Mình chỉ làm thuê, ngoài ra là việc của họ, mình không làm thì người khác làm. Làm thì có thêm điều kiện giúp cho đoàn thể.

Tụy Phương yên tâm bắt tay vào tổ chức công việc ngay tại nơi sơ tán. Thóc được chuyển đến ngày càng nhiều. Tiền công, sau khi trừ chi phí (thuê sân phơi, nhà kho, thuê xay xát, nhân công) còn lại cũng khá, chị trích một phần đóng góp đều đặn cho Đảng. Đáng kể nhất là thóc. Do tỷ lệ thu hồi thóc sau khi phơi khô và tỷ lệ gạo so với thóc, trên thực tế đều cao hơn định mức thỏả thuận với nhà thầu, nên thu được một số thóc dôi dư đáng kể, tất cả dành cung cấp cho Đảng nuôi cán bộ đảng viên, quần chúng cơ sở... Công việc này tiếp tục cho đến Cách mạng Tháng Tám.

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp trên căn cứ địa Việt Bắc, đầu năm 1950, tôi được điều từ Bộ Kinh tế - ở đó tôi là Phó Đổng lý sự vụ - sang làm việc với anh Cả lúc này ở gần Quảng Nạp. Ở đây đã có một số cán bộ, trong đó có tôi được phát một bộ quần áo, một đôi giầy bằng da bò thuộc thô, và 6 đồng, theo chế độ nuôi cán bộ ăn đủ no, mặc đủ ấm ở tập thể, ăn tập thể không trả tiền, một năm hai bộ quần áo, tiền tiêu vặt hàng tháng. Tôi đặc 242biệt có ấn tượng về đôi giầy da. Ngay ở Hà Nội, giầy da cũng rất hiếm, mọi người hầu như chỉ dùng một loại dép duy nhất, dép cao su đúc mỏng, màu trắng, nhãn hiệu "Con hổ"

Được khoảng một tháng, tôi theo anh Cả đến một địa điểm khác ở xã Thanh Định, huyện Định Hóa, ở trên một đồi gọi là đồi B, ngoài căn nhà tre, lá của anh còn có cơ quan anh Trần Đăng Ninh. Đến đây, anh mới giao nhiệm vụ: thảo dự án thành lập Ban Kinh tế - Tài chính Trung ương Đảng. Lúc này, tôi biết bên Chính phủ đã có dự án lập Ban Kinh tế Chính phủ, gồm đại diện các khối kinh tế (các Bộ Kinh tế, Tài chính, Canh nông...). Bộ Quốc phòng và một số đoàn thể có bộ máy làm việc là thư ký vụ đặt ngay tại Văn phòng Chính phủ. Ban Kinh tế Trung ương Đảng có gì khác với Ban Kinh tế Chính phủ? Tôi đề nghị anh Cả cho biết ý kiến chỉ đạo của Trung ương, cụ thể là Ban Thường vụ Trung ương.

Anh nói: "Ban Thường vụ Trung ương mới đưa ra ý tưởng, chưa bàn, làm việc nghiêm túc và có hiệu quả thì trước tiên phải có một bản dự thảo làm cơ sở thảo luận. Việc này giao cho anh". Anh nói tiếp: "Anh cứ chủ động nghiên cứu, mạnh dạn đề xuất. Anh có thời giờ rộng rãi, hai, ba tháng, không việc gì phải vội vã. Trong quá trình làm việc, có gì cần bàn bạc, anh cứ nêu để chúng ta cùng trao đổi"

Tôi định hướng suy nghĩ. Trước tiên phải xác định vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Ban Kinh tế Trung ương 243Đảng. Ban Kinh tế Trung ương Đảng nên tập trung sự quan tâm vào những vấn đề gì là quan trọng nhất. Cuối cùng, xét đến khung tổ chức và phương pháp làm việc. Tôi hình dung Ban Kinh tế Đảng là cơ quan chuyên môn, tham mưu cho Trung ương Đảng từng lĩnh vực kinh tế, có nhiệm vụ bảo đảm sự lãnh đạo của Ban Thường vụ Trung ương về những vấn đề cơ bản thuộc đường lối, chính sách xây dựng, phát triển kinh tế nhằm mục tiêu hàng đầu đánh thắng quân xâm lược, đồng thời bồi dưỡng sức dân để kháng chiến lâu dài. Cũng cần quan tâm những vấn đề thực tiễn bức xúc, những vấn đề nóng... Ví dụ: cải cách ruộng đất, cuộc cách mạng thứ hai cần được tiến hành ngay trong kháng chiến hay để chuẩn bị sau khi kháng chiến thắng lợi?

Trong kháng chiến có nhiều vấn đề quan trọng khác, như chính sách thuế nông nghiệp, thu chi tài chính và phân bổ ngân sách, thành lập Ngân hàng quốc gia, v.v.... Một vấn đề thời sự nóng bỏng đòi hỏi cảnh giác thường trực và giải quyết kịp thời, đó là biến động giá cả, đặc biệt là giá thóc gạo tăng đột biến từ năm 1948, không ngừng leo thang, và có nguy cơ ngày càng trầm trọng, phải phối hợp nhiều biện pháp mới kiềm chế được, v.v... Ban Kinh tế Trung ương Đảng không cần đi sâu về những vấn đề cụ thể thuộc chuyên môn các ngành mà chủ yếu phát huy năng lực Đảng đoàn cán bộ, đoàn thể, dựa vào họ để thẩm định các dự án theo quan điểm của Đảng, trước khi trình lên Ban Kinh tế Chính phủ và 244Chính phủ. Ban Kinh tế Đảng phối hợp chặt chẽ với Ban Kinh tế Chính phủ.

Đó là tinh thần những đề xuất trong dự án.

Ở đây là một khung cảnh đẹp, đồi cao nằm giữa rừng xanh, vắng vẻ, yên tĩnh, thanh bình, hoa hoằn mới có một chiếc máy bay bay cao vụt qua, tôi có thể thư thái, tập trung tư tưởng làm việc. Anh Cả thỉnh thoảng vắng mặt, còn một mình tôi ở cơ quan. Ở một gian nhà nhỏ gần kề, Thép Mới hằng ngày ngồi đó cặm cụi viết. Tôi gần như ngày nào cũng sang chơi, chuyện trò một lát, cũng thỉnh thoảng gặp Hồ Sĩ Quốc, cán bộ của anh Trần Đăng Ninh. "Quan hệ xã hội" của tôi trong những ngày ấy chỉ có vậy mà vẫn vui.

Khi anh Cả làm việc ở nhà là dịp tôi báo cáo tiến độ công việc, trình bày ý kiến đã dự thảo, và nghe ý kiến của anh. Đó không phải là những cuộc họp trịnh trọng gò bó, công thức, mà là những cuộc trao đổi, trò chuyện thân tình bầu bạn cởi mở, thẳng thắn, bình đẳng, thoải mái, đôi khi xen những tiếng cười, cả những chuyện riêng tư. Anh hỏi tôi về sức khoẻ và công tác của Tụy Phương, gợi lại những kỷ niệm cũ khi Tụy Phương công tác với anh, trân trọng những cố gắng của Tụy Phương đóng góp cho cách mạng.

Anh luôn tỏ ra rất khiêm tốn. Nhưng qua những cuộc trao đổi, tôi thấy ngoài việc anh là nhà hoạt động cách mạng bản lĩnh, dày dạn kinh nghiệm, vào sinh ra 245tử, anh còn giỏi tổ chức làm tài chính cho Đảng, giàu kinh nghiệm hoạt động thực tiễn tổ chức buôn bán, sản xuất tiểu công nghiệp, giàu hiểu biết xã hội. Với vốn sống phong phú ấy, tuy lần đầu bước vào lĩnh vực kinh tế vĩ mô, anh có những nhận xét và gợi ý rất sâu sắc, giúp nâng cao, phát triển, hoàn thiện các ý tưởng đề xuất. Anh vừa rất giản dị, vừa rất tế nhị, tôn trọng người đối thoại, lắng nghe ý kiến của họ, và tuyệt nhiên không có những lời lẽ mang hơi hướng "giáo huấn" về quan điểm, tư tưởng, lập trường, v.v., dễ gây phản cảm và làm hỏng không khí thảo luận. Cứ từng bước như thế, qua các cuộc trao đổi, không ít hơn chục lần, dự án dần hình thành cho tới lúc định hình. Dự án không còn là kết quả nỗ lực của riêng tôi nữa, nó cũng là kết quả tiếp thu những ý kiến đóng góp của anh, kết quả sự chỉ đạo của anh. Chỉ đạo, mà như không chỉ đạo, đó thật sự là một nghệ thuật thu phục nhân tâm, phát huy khả năng cán bộ để phục vụ cách mạng.

Dự thảo tổ chức Ban Kinh tế - Tài chính Đảng hoàn thành vào cuối tháng 5/1950. Ngày 1/6/1950, tôi từ biệt anh Cả lên Phủ Thủ tướng khi nhận nhiệm vụ mới: phụ trách Văn phòng Ban Kinh tế Chính phủ, với chức danh Thư ký Ban Kinh tế Chính phủ do một sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ nhiệm.

246Qua tiểu sử, hồi ức của anh, những bài viết về anh, anh hiện ra như một chiến sĩ cộng sản kiên cường, tuyệt đối trung thành với Đảng, với dân tộc và nhân dân, vững vàng trong thử thách, dũng cảm, khôn khéo vượt qua những tình huống hiểm nghèo. Anh là hiện thân của đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Anh có nhiều đóng góp to lớn cho cách mạng.

Tuy nhiên, trong những ngày này, điều tôi cảm nhận đậm đà, sâu sắc nhất là một chiều kích khác trong nhân cách của anh: đó là tình người "Anh Cả rất tốt", đó là câu đầu tiên mà những người bạn thốt lên khi nói về anh.

"Anh Cả rất tốt, có tình người sâu sắc", đó là bản chất nhân văn của một nhân cách lớn. Điều đó đủ nói lên tất cả.

ANH NGUYỄN DUY TRINH

Cuối tháng 5/1964, anh Nguyễn Duy Trinh muốn

nghe trước tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế sáu tháng đầu năm, không chờ báo cáo trước toàn Ủy ban Kế hoạch Nhà nước vào cuối tháng sáu hằng năm như thường lệ và cho tôi vài ngày để chuẩn bị. Đây là tình huống đột xuất, tôi chưa nhận được một tài liệu nào của các Bộ hay các Vụ trong Ủy ban, mới duy nhất có một báo cáo thống kê. Tôi đến một số Bộ để sưu tầm những thông tin mới nhất và ý kiến của họ, nhưng khi hệ thống hoá các tài liệu thì tôi nảy ra một ý tưởng mới và chủ động chuẩn bị theo hướng đó.

247Cuộc họp có anh Trinh, anh Hiền - Phó Cục trưởng Cục Thống kê và tôi.

Anh Hiền trình bày báo cáo thống kê sáu tháng đầu năm.

Tôi bổ sung một số thông tin mới thu thập, sau đó nói về quan điểm đánh giá tình hình:

Nguy cơ Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc đang tới gần, đất nước sắp trải qua một bước ngoặt nghiêm trọng, chuyển từ kinh tế thời bình sang kinh tế thời chiến. Do tiềm lực kinh tế và quân sự của đế quốc Mỹ, chúng ta sẽ phải trải qua những khó khăn gay gắt hơn trước rất nhiều. Cho nên cần nhìn lại không chỉ sáu tháng đầu năm nay mà cả quá trình phát triển kinh tế từ trước đến nay, nhất là từ khi bắt đầu kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, để đánh giá đúng xu thế và thực trạng, những thành tựu và hạn chế trước đòi hỏi của tình hình mới và chuyển hướng kinh tế phù hợp với tình thế mới kể từ nửa cuối nam nay.

Tôi nói về tình hình phát triển nông nghiệp qua ba năm phát triển kinh tế 1958-1960 và gần bốn năm kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, bên cạnh những thành tựu và tiến bộ đáng ghi nhận, nông nghiệp cũng bộc lộ nhiều hạn chế.

Một là, sản xuất tăng trưởng chậm, trên dưới 2% mỗi năm, thấp hơn tốc độ tăng dân số tự nhiên.

Hai là, cơ cấu hầu như không thay đổi, vẫn độc canh lúa, mang nặng tính tự cấp tự túc. Cây công nghiệp có 248tăng nhưng tỷ trọng trong tổng giá trị ngành trồng trọt chưa có biến đổi đáng kể. Tỷ trọng chăn nuôi thấp. Tỷ trọng nghề phụ trong tổng thu nhập của nông dân thấp; thực ra các hợp tác xã và địa phương thường khai thấp hơn thực tế để cố "chứng minh" thu nhập từ kinh tế hợp tác vẫn chiếm vị trí áp đảo, nhưng dù có cao hơn cũng vẫn manh mún và không thấm tháp gì so với nhu cầu cái thiện đời sống của nông dân.

Ba là, năng suất cây trồng và vật nuôi thấp, năng suất lao động rất thấp. Năng suất lúa bình quân cả miền Bắc dưới 5 tấn/hai vụ lúa/năm. Cho nên năng suất lúa bình quân đầu người trong nhiều năm chỉ trên dưới 300- 320 kg.

Tôi đề cập nguyên nhân đầu tư không thoả đáng cho nông nghiệp. Nguyên nhân chính là số vốn đầu tư lớn bị hút vào công trình gang thép Thái Nguyên. Bộ Công nghiệp cho biết vốn đã chi đến thời điểm ấy (5/1964) là trên 400 triệu đồng. Tức là toàn bộ số vốn dự toán đã chi hết khi thi công còn dở dang. Tính toán ban đầu quá thấp so với thực tế diễn ra sau này khiến ta bị động, đâm lao phải theo lao. Điều đó hạn chế đầu tư vào nông nghiệp. Công nghiệp nhẹ cũng chịu ảnh hưởng. Trong suốt mấy năm ấy, chúng ta chủ yếu tiếp tục hoàn thành những nhà máy đã khởi công trong ba năm trước (1958-1960), ít xây dựng được nhà máy mới.

Cũng phải thành thật nói rằng: tôi là một trong những người ủng hộ nhiệt tình xây dựng gang thép Thái 249Nguyên. Một nước phải nhập khẩu từ cái kim đến sợi chỉ mà nay bỗng chốc mọc lên một cơ sở công nghiệp nặng to lớn và hiện đại như thế, có gì phấn khởi và tự hào hơn. Chỉ dần dần sau này tôi mới suy nghĩ khác.

Ngoài gang thép Thái Nguyên, có một công trình lớn khác là Thuỷ điện Thác Bà. Vấn đề này thảo luận rất nhiều lần, rất kỹ lưỡng. Tôi dự hầu hết các cuộc thảo luận. Đến bước thảo luận cuối cùng, một Viện trưởng của Liên Xô sang thẩm định dự án, nêu ý kiến là không nên thi công, không phải vì lý do kỹ thuật, mà vì lý do kinh tế: huyện Yên Hưng là vựa lúa của tỉnh Yên Bái, cũng là một trong những vựa lúa quan trọng của miền núi phía Bắc (ngoài ra chỉ có một vựa lúa ở Nghĩa Lộ và Lai Châu). Trong mấy buổi họp cuối cùng, cũng để đi tới thống nhất ý kiến, một đồng chí thứ trưởng nói: "Sớm biết thế này thì tôi đã không "bỏ phiếu" tán thành, nhưng bây giờ thì đã quá muộn để thay đổi ý kiến". Ý kiến cũng phản ánh tâm trạng của nhiều người. Xin nói thêm rằng tác dụng phát điện nhỏ bé (108.000 kw xây dựng một nhà máy nhiệt điện cùng công suất rẻ hơn và nhanh hơn nhiều), tác dụng điều tiết chống lũ không đáng kể, tác dụng tưới ruộng cũng nhỏ, không bù lại được một huyện như Yên Hưng.

Có người nói: Gang thép Thái Nguyên và thủy điện Thác Bà là hai dấu ấn đậm nhất của thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Nhưng tôi cứ tự hỏi, có nhất thiết phải thế không? Liệu có cách đi nào khác đem lại hiệu quả cao hơn, sớm hơn cho kinh tế và đời sống nhân dân 250hay không? Khi đó, sẽ có những dấu ấn khác, không đồ sộ bằng hai công trình kia, nhưng có thể đậm đà hơn, in sâu vào lịch sử và lòng người.

Và tôi cũng tự hỏi: trong kế hoạch 5 năm, có hay không những chủ trương chưa thật phù hợp với quy luật trong điều kiện xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp, lao động thủ công là chính, lại mới ra khỏi một cuộc chiến tranh trường kỳ vô cùng gian khổ? Tôi nói liên tục khoảng một tiếng đồng hồ. Anh Nguyễn Duy Trinh vẫn chú ý nghe, thỉnh thoảng có ghi gì đó vào sổ tay.

Khi tôi trình bày xong, anh hỏi:

- Anh có bản viết không?

- Thưa anh, gấp quá, tôi chỉ kịp ghi ý chính, gạch đầu dòng. Sau hai ngày nữa tôi sẽ trình anh bản viết.

Vậy là những điều băn khoăn trước đây tôi chưa biết nói với ai thì nay đã được trình bày với người thủ trưởng mà tôi hết sức tin tưởng. Ấn tượng sâu đậm nhất là thái độ điềm tĩnh và chú ý lắng nghe ý kiến cán bộ cấp dưới, với tinh thần rộng mở và khoan dung. Anh Nguyễn Duy Trinh có vẻ đồng tình về sự phân tích tình hình nông nghiệp, còn về những phần khác tôi không rõ anh có hoàn toàn chấp nhận hay không? Có thể là anh còn suy nghĩ. Tôi thấy ở anh Nguyễn Duy Trinh đức độ của những nhà lãnh đạo có nhân cách lớn.

251Đó là một kỷ niệm sâu sắc trong những năm tôi được làm việc với anh Nguyễn Duy Trinh.

NHỚ MINH CHI

Khoảng 10h sáng ngày 25/4/2006, anh Tuấn trong Ban liên lạc cán bộ Ban Kiểm tra 12 (tức Văn phòng Chính phủ) gọi điện báo tin: "Anh Minh Chi đã mất lúc 9h, tôi đã thay mặt anh em gửi điện chia buồn với gia đình".

Tôi sửng sốt, hoàn toàn bất ngờ; chỉ mới đây thôi, tháng 7-8 năm 2005 tìm được số điện thoại của anh ở Thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã gọi điện hỏi thăm, khi biết anh vừa qua một cuộc phẫu thuật. Tôi rất mừng vì bên kia đường dây cũng vang lên tiếng hân hoan mừng rỡ của Minh Chi. Chả là, có dễ đã hơn chục năm, đến nay chúng tôi mới liên lạc được với nhau! (Chuyện như vô lý mà có thật). Tiếng nói Minh Chi qua điện thoại vẫn mạnh mẽ, rõ ràng, tôi rất mừng, nói ngắn để anh khỏi mệt. Không ngờ anh lại ra đi sớm thế. Tôi ra ngồi trước máy, định viết ngay ký ức về anh, coi như thắp nén nhang vọng tưởng anh, nhưng phải lùi lại để ký ức có thời gian lắng đọng.

Minh Chi với tôi là bạn cùng khóa 1941-1942 trường Luật (Đại học Đông Dương). Anh ở Khu học xá Đông Dương. Ngoài việc học, anh đến nhiều chùa ở Hà Nội giảng đạo Phật cho các vị tu hành, trong đó có các vị chức sắc. Một buổi chiều anh đang chơi bóng chuyền ở sân Khu học xá thì được báo có khách đến thăm. Anh quay 252ra đón, bỗng ngượng chín người: khách là một vị sư cụ, có một vị sư thầy tháp tùng, còn anh thì mặc quần cộc, cởi trần, mồ hôi nhễ nhại. Theo anh, nhiều nhà sư hiểu chưa sâu giáo lý đạo Phật, kế cả các vị chức sắc cao cấp, ít người được nghiên cứu nguyên tác Phật giáo; nên anh rất được nể trọng.

Vậy là Minh Chi rất thành thạo chữ Nho, chữ Nôm (và cả chữ Sanscrit nữa chăng?). Những trí thức được đào tạo thành thục cả Nho học và văn hóa phương Tây (chủ yếu là Pháp) như Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Bùi Kỷ, Phan Kế Toại,... hầu hết thuộc thế hệ sinh ra vào cuối thế kỷ XIX. Còn những trí thức Tây học sinh ra vào đầu những năm 20 của thế kỷ XX, không mấy người biết hoặc thành thạo chữ Nho, Minh Chi là một trường hợp hiếm có. Anh cho biết, anh đươc học chữ Nho từ nhỏ. Sau này tôi được biết thêm anh là em hòa thượng Thích Minh Châu, đã nhiều năm tu hành ở Ấn Độ và là Viện trưởng Viện Phật giáo Việt Nam ở Thành phố Hồ Chí Minh (sau ngày giải phóng miền Nam, hai anh em mới gặp lại nhau).

Từ 1944 đến Cách mạng Tháng Tám và những năm đầu kháng chiến, chúng tôi không có tin tức gì về nhau, phải đến năm 1950 mới gặp lại. Tháng 7 năm đó, tôi lên nhận công tác tại Phủ Thủ tướng, làm Trưởng phòng 4B (Phòng Nghiên cứu Kinh tế). Phòng 4B cũng đồng thời là Thư ký vụ Ban kinh tế Chính phủ. Sau một thời gian ngắn, phòng 4B có thêm hai cán bộ đến gần như cùng một một lúc và cùng có tên là Vinh, một người là Đặng 253Văn Vinh, một người là Đinh Văn Vinh (tức Minh Chi). Minh Chi được ông Phạm Văn Đồng, Phó Thủ tướng Chính phủ, giao nhiệm vụ xây dựng và phụ trách Tập san Kinh tế. Một mình Minh Chi xoay trần ra làm, đặt bài, viết bài, biên tập, lo mọi việc từ đánh máy đến rà soát văn bản, trình bày, đưa in ấn... Chỉ trong vòng một tháng, Tập san Kinh tế đã ra được tập đầu và từ đó ra đều đặn mỗi tháng một kỳ.

Có thể nói, Tập san Kinh tế là sản phẩm của Minh Chi, chứng tỏ năng lực sáng tạo, ý thức trách nhiệm và đức tính chuyên tâm, cần cù của anh. Chúng tôi cùng làm việc với nhau cho tới khi cuộc kháng chiến thắng lợi và trở về Thủ đô. Nhiều anh em phòng 4B chuyển công tác khác. Minh Chi đến trường Đại học Nhân Dân đặt tại khu Bảo tàng Maurice Long, cũng gọi là Khu Đấu xảo (nay là Cung Văn hóa Hữu Nghị). Sau đó, anh trở thành giảng viên trường Đại học Kinh tế Kế hoạch, là Tổ trưởng Tổ Phân vùng kinh tế, còn tôi công tác ở Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (UBKHNN). Hai cơ quan khác nhau nhưng nội dung công việc có liên quan với nhau nên chúng tôi vẫn thường gặp nhau.

Khôn dại, dại khôn
"Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần" (Tố Hữu).
Năm 1963, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 9 lên án chủ nghĩa xét lại, trong đó có một ý: Đảng Cộng sản Trung Quốc đã sớm phát hiện sai lầm này của Đảng Cộng sản Liên Xô. Sau đó, tôi nghe nói Minh Chi có một số ý 254kiến khác với Nghị quyết, và được phép bảo lưu; (thời đó đảng viên được phép giữ nhưng không được tuyên truyền những ý kiến trái với quan điểm của Đảng, đó là một biểu hiện của tập trung dân chủ). Nhân một lần gặp Minh Chi, tôi hỏi, anh không tán thành Nghị quyết ở những điểm nào và trên những vấn đề gì? Anh không trả lời cụ thể, chỉ lắc đầu ngao ngán và nói:

- Tôi không tin ông bạn Trung Quốc, muốn nói thể nào cũng được. Muốn quy cho ai một tội gì, thì người ta cố tìm, tìm bằng được, rồi sẽ tìm ra cả chứng lẫn cớ để buộc tội. Đó là thói ngụy biện nguy hiểm nhằm biện minh cho những tội ác khủng khiếp nhất của cường quyền, họ làm những việc đó là có mưu đồ hẳn hoi với những động cơ và mục đích đen tối được che giấu tinh vi. Có những người trung thực coi những điều họ nói như những tín điều tôn giáo, có những người thiếu tư duy độc lập và ngây thơ về chính trị, và có cả những kẻ cơ hội.

Lời nói của Minh Chi khiến tôi nhớ đến cuộc Cải cách Ruộng đất tiến hành năm 1954 trong kháng chiến và vài năm đầu hòà bình.

Thật không may, việc được bảo lưu một số ý kiến riêng, độc lập của cá nhân lại trở thành một tai họa, một án treo lơ lửng trên đầu Minh Chi suốt thời gian dài từ đó cho đến ngày giải phóng miền Nam (có thể còn lâu hơn). Nghị quyết Đại hội III của Đảng, phần nói về Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), rất coi trọng và nhấn mạnh công tác phân vùng kinh tế (PVKT). Trường Đại 255học Kinh tế Kế hoạch (ĐH KTKH) có một Tổ Phân vùng Kinh Tế (PVKT) do Minh Chi làm tổ trưởng. UBKHNN có Vụ PVKT, từ năm 1962-1965 đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp hoàn thành Dự án PVKT nông nghiệp miền Bắc. Lúc đó, do tôi phụ trách Vụ Tổng kợp kế hoạch kinh tế quốc dân, có thời gian kiêm nhiệm cả Vụ Địa phương nên cũng cần tìm hiểu, tự trang bị kiến thức về lý thuyết và phương pháp PVKT.

Tôi đề nghị Minh Chi cung cấp tài liệu, anh cho tôi giáo trình PVKT do anh soạn cho sinh viên, nhờ đó sinh viên nắm được một số kiến thức nhập môn, làm cơ sở ban đầu để tiếp tục đi sâu sau này.

Năm 1965, năm kết thúc Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, cũng là lúc bắt đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, Vụ Tổng hợp KHKTQD chia làm hai vụ: Vụ Tổng hợp kế hoạch ngắn hạn, chuyên trách kế hoạch thời chiến, và Vụ kế hoạch dài hạn do tôi phụ trách. Có lần anh Nguyễn Côn, Phó Thủ tướng - Chủ nhiệm UBKHNN, trực tiếp chỉ đạo công tác kế hoạch dài hạn, muốn nghe tôi giới thiệu về công tác PVKT. Tôi nói, sẽ giới thiệu để anh Minh Chi đến trình bày, anh ấy có kiến thức sâu rộng trong lĩnh vực này. Vì bận việc, tôi không dự buổi thuyết trình này, nhưng biết anh Côn tỏ vẻ hài lòng. Ít lâu sau, Vụ PVKT giải thể, công việc này giao cho Vụ Kế hoạch dài hạn kiêm nhiệm.

Tôi gặp Vụ trưởng Vụ Tổ chức, đề nghị liên hệ với Ban Giám hiệu Trường ĐHKTKH, điều đình xin Minh 256Chi về chỗ tôi, chuyên trách mảng PVKT. Khoảng một tuần sau, anh gặp tôi, thông báo:

- Trường không đồng ý, còn cho biết Minh Chi "có vấn đề về lập trường tư tưởng", nhưng không nói cụ thể. Tôi thì đoán ra chuyện gì. Chuyện "dại mồm, vạ miệng" nên mang họa vào thân! Nhưng cũng thật vô lý! Có lẽ cơ quan quản lý cán bộ đã hiểu sai ý của Trung ương, họ đã lồng vào đây quan điểm riêng của họ về dân chủ trong Đảng, quan điểm giáo điều máy móc về ý thức hệ, cùng với thái độ hẹp hòi và những định kiến. Tôi không nghi ngờ sự trung thực của họ, nhưng chính vì thế mà những nhận thức sai lầm càng ăn sâu, bám rễ trong tư duy của họ. Họ càng tỏ ra hăng hái, ráo riết, triệt để trong hành xử, thì điều oan sai mà họ gây ra lại càng khủng khiếp đối với số phận nạn nhân.

Chẳng lẽ trung thực, ngay thẳng, nói với Đảng những ý kiến thành thật của mình là có tội, bị quy chụp là mất lập trường Đảng? Chắc hẳn đối với Minh Chi, lập trường Đảng là lập trường Chân Lý, ý tưởng cho phép bảo lưu thể hiện tinh thần mở rộng dân chủ trong Đảng, nhưng lại là khái niệm mập mờ và mâu thuẫn. Cho bảo lưu có nghĩa là đảng viên nghĩ một đường, nói một nẻo, đảng viên phải nói những điều trái với ý nghĩ thật của mình, tức là dối mình và dối người. Vậy phải chăng chúng ta khuyến khích sự dối trá và hợp pháp hóa sự dối trá, sự hèn nhát và chủ nghĩa cơ hội?

257Đối với đảng viên thì đây là một bi kịch. Anh ta có hai sự lựa chọn: hoặc là thủ tiêu ý kiến của mình (mà anh ta vẫn cho là đúng), tức là từ bỏ quyền tự do tư tưởng, quyền tư duy độc lập, một quyền đứng hàng đầu trong các quyền tự do của con người trong một xã hội văn minh. Nói cách khác là anh ta tự tước bỏ nhân phẩm và phẩm chất đảng viên của mình, tự phủ định mình; hoặc là không đả động, không tuyên truyền quan điểm của Đảng, không đấu tranh thực hiện quan điểm của Đảng trong thực tiễn, tức là không thực hiện đầy đủ nhiệm vụ đáng viên. Tâm trạng anh ta rối bời như một vòng tròn mâu thuẫn và luẩn quẩn.

Sự thống nhất trong bản ngã bị lung lay, anh ta như phân thân thành hai mảnh bị hút vào vòng xoáy những xung đột nội tâm dữ dội không tìm ra lối thoát.

Đương nhiên, vấn đề đặt ra ở đây, dù quan trọng đến mấy, cũng chỉ là một vấn đề cục bộ, trong một thời đoạn lịch sử cụ thể, không liên quan đến tổng thể đường lối cách mạng trong toàn bộ tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước.

Tôi tranh thủ sự cộng tác của Minh Chi, chủ yếu về học thuật (vì chuyện của anh còn uẩn khúc, nên chưa thể để anh tiếp xúc các văn bản kế hoạch). Tôi hỏi ý kiến anh về một số vấn đề chưa rõ, mời anh nói chuyện với anh em trong cơ quan, đưa anh cùng đi địa phương, dự một 258số buổi làm việc với tỉnh, huyện. Anh thường thận trọng khi phát biểu, phần nhiều nói riêng với tôi sau cuộc họp. Đề phòng điều ong, tiếng ve, tôi nhờ một đồng chí cán bộ đã có tuổi tới gặp và trao đổi với anh Khuê, Hiệu trưởng Trường Đại học KTKH, đề nghị nhà trường không phản đối việc Minh Chi cộng tác với chúng tôi. Đồng chí ấy về báo cáo: - Anh ấy lấp lửng, chẳng ra phản đối, cũng chẳng ra đồng ý, chỉ nói: anh Ngọc có biết Minh Chi là thế nào không mà sử dụng Minh Chi?

Tôi tức đến lộn ruột. Tôi hỏi: - Anh trả lời thế nào? Đồng chí ấy có vẻ lúng túng. Tôi nói: - Thâm ý anh Khuê rất rõ ràng, có điều là không tiện nói toẹt ra thôi. Chẳng những phản đối mà còn có ý chỉ trích cho nên mới xách mé như thế. Đồng chí là "sứ giả" của tôi, lẽ ra đồng chí nên tinh ý một chút, và đáp trả một cách đích đáng, ví dụ có thể nói lại: "Anh Ngọc biết rất rõ việc gì nên và có thể làm, không cần đến anh dạy khôn". Đó là tư thế bảo vệ uy tín cho tôi. Nhưng thôi, việc đã rồi. Đã vậy, tôi sẽ tiếp tục mời Minh Chi cộng tác, anh ta không có quyền ngăn cản.

Câu chuyện với anh Khuê cho thấy Minh Chi bị định kiến nặng nề như thế nào. Từ trước, tôi mới nghe tin qua Vụ Tổ chức, bây giờ đã gần như trực diện với hung thần đang nắm trong tay vận mệnh Minh Chi. Triển vọng điều Minh Chi rất xa vời.

259Thế rồi, tôi cũng lại có việc cần đến anh Khuê. Tôi đề nghị anh cho mượn trong ba tháng một giảng viên kinh tế của trường, tự học rất giỏi tiếng Nga, là anh Lê Văn Viện, làm nhiệm vụ phiên dịch cho một đoàn cán bộ chúng tôi sang Liên Xô và Bungari nghiên cứu PVKT vào mùa thu năm 1974. Lần này thì anh Khuê vui vẻ nhận lời. Anh Viện là cổng thông tin của tôi với thế giới bên ngoài nên luôn ở bên cạnh tôi, anh cho tôi thêm thông tin về tình cảnh Minh Chi.

Thứ nhất, công tác PVKT được Chính phủ, các Bộ, các tỉnh triển khai mạnh mẽ, nhiều người đề nghị đưa tổ PVKT mà Minh Chi là tổ trưởng thành một Khoa, đề nghị ấy hợp lý nhưng bị bác bỏ (hiểu ngầm, nếu nâng lên thành Khoa thì chức Chủ nhiệm khoa mặc nhiên sẽ là Minh Chi, đó là điều không thể chấp nhận).

Thứ hai, một thời gian dài Minh Chi không được tăng lương, hầu hết giảng viên, cán bộ đều không đồng tình với Ban Giám hiệu và kiến nghị áp dụng chế độ tăng lương như với mọi người khác, nhưng không có phản hồi. Và Minh Chi cứ thủng thẳng bước tới tương lai với mức lương khởi điểm của giảng viên đại học.

Một buổi chiều mùa hè 1974, anh Tô gọi tôi sang trao đổi về công tác PVKT. Khi công việc kết thúc, tôi nêu vấn đề Minh Chi, đề nghị anh trao đổi với Ban Tổ chức Trung ương xem xét lời đề nghị của tôi xin điều Minh Chi từ Trường ĐH KTKH sang UBKHNN, làm việc ở đơn vị tôi, sắp tới sẽ thành Viện Phân vùng Quy hoạch Trung 260ương. Trường hợp Minh Chi có uẩn khúc gì đó, anh có một số ý kiến bảo lưu đối với Nghị quyết Bộ Chính trị về chống chủ nghĩa xét lại, có người cho đó là sai lầm nghiêm trọng về lập trường tư tưởng, không nên chuyển Minh Chi đến một cơ quan quan trọng như UBKHNN. Tôi đề nghị Ban Tổ chức Trung ương kiểm tra và cho ý kiến.

Anh Tô ghi vào một cuốn sổ tay nhỏ. Khoảng một tuần sau, anh Nguyễn Đức Tâm - Phó Trưởng ban Ban Tổ chức Trung ương mời tôi sang gặp. Anh nói: - Ban Tổ chức không thấy có vấn đề gì, có thể chuyển anh Minh Chi đến UBKHNN, nếu có công văn đề nghị.

Không ngờ vấn đề được xác minh, giải quyết nhanh chóng, đơn giản đến thế. Vậy mà một số người đã làm nó rối tung lên. Nhưng điều bất ngờ lớn nhất đang chờ tôi. Khi gặp lại Vụ Tổ chức UBKHNN, tôi lại một lần nữa vấp phải một tảng đá trơ trơ, vô tri vô giác.

Phải chăng Minh Chi đã "dại" khi công khai tư tưởng (dù chỉ trong một cuộc họp chi bộ)? Nếu anh giấu kín ý kiến riêng, lẳng lặng không nói gì, thì không ai biết được điều "bí mật" của anh, anh sẽ sống yên ổn, thậm chí còn được coi là đã nhất trí với Trung ương, có lập trường tư tưởng vững vàng, được đánh giá cao và con đường thăng tiến rộng mở trước mặt anh. Như thế có "khôn" hơn không? Có lẽ đời thường, rất nhiều người, nhiều, rất nhiều đảng viên nghĩ thế và chọn cách ứng xử khôn khéo an toàn ấy.

261Nhưng trong đời, nhiều khi dại và khôn, khôn và dại không hoàn toàn tách bạch. Ta đang nói đến một vấn đề ý thức chính trị và một vấn đề đạo đức làm người. Khi đó, trong dại có khôn, trong khôn có dại, và có một sự chuyển hoa giữa hai khái niệm. (Ta nói dại - khôn ở đây không phải theo nghĩa thông tục). Thái độ Minh Chi, mà có thể có người cho là dại, là thái độ trung thực và dũng cảm trước cách mạng và trước cuộc đời. Cái mất của anh là bị ngộ nhận và đối xử không công bằng, nhưng cái được lớn hơn rất nhiều, đó là nhân cách và danh dự, là bản lĩnh của đảng viên và con người chân chính. Cho nên cái "dại" của Minh Chi lại là cái " khôn". Còn những kẻ gọi là "khôn" - những kẻ cơ hội - thì đánh mất tất cả những gì là giá trị đích thực của con người.

Mặc dù ý thức rõ về sự bất công, Minh Chi không tỏ vẻ gì bức xúc, không một lời ca thán.

Vài năm sau ngày giải phóng miền Nam, Minh Chi vào Thành phố Hồ Chí Minh và dạy ở trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Từ đó tôi không liên hệ được với anh, nhưng vẫn được đọc trên Tập san Xưa và Nay một số bài anh viết về Phật giáo, những bài chững chạc có sức thuyết phục cao.

Minh Chi có kiến thức sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, luôn được bồi đắp qua một quá trình tự nghiên cứu, tự học thường trực, bền bỉ, kiên trì, với kỷ luật tự giác rất cao. Ngoài một căn hộ gia đình nhỏ, anh được phân thêm một căn phòng hẹp 8m' ở khu tập thể Kim Liên, kê một tủ sách 262và một cái bàn gỗ mộc; hằng ngày anh tới đây, cứ tám giờ là ngồi vào bàn, bắt đầu làm việc cho tới hết buổi sáng. Anh ham mê văn học và ngoại ngữ. Ngoài học chữ Nho hồi nhỏ, tiếng Pháp ở trường Pháp - Việt, tiếng Anh ở bậc Tú tài Tây thời Pháp, nay anh tự học thêm tiếng Đức thuần thục đến mức có thể chuyển ngữ thơ tiếng Đức thành thơ tiếng Việt.

Minh Chi tính hiền, điềm tĩnh, sống giản dị, thân thiện với mọi người, ngay thẳng, chân thành, trung thực, được bạn bè quý mến. Khi đối mặt với cuộc đời, anh tỏ rõ có dũng khí, bản lĩnh và đạo đức vững vàng.

Những dòng ký ức này là để tưởng nhớ anh, người bạn thân quý, nay đã là người thiên cổ. Chúc anh được thanh thản nơi vĩnh hằng. Tôi chợt nhớ câu thơ đậm "triết lý sống" (và chết) của Lê Đại Thanh, nhà thơ đất cảng:

Khi tôi chết, những người thân đừng nhỏ lệ

Mà ngâm với tôi một đoạn ngắn thơ tôi

(Chết là trở về tinh thể sao trời

Trả Trái đất những gì vay mượn trước)

Chào những bộ hành tuổi xanh xuôi ngược

Tôi xuống ga đời gửi lại vé quê hương.

Câu thơ trên trích từ bài Di chúc bằng thơ của Lê Đại Thanh viết từ rất sớm ở tuổi 58. (Ông sinh năm Đinh Mùi 1907, mất năm 1996). Và đây là đoạn kết:

263Hãy trồng cho tôi bốn cây đại quanh mồ Và một cây bạch đàn lá xanh biết hát

Để chim sơn ca tầm trưa nghỉ mát

Kể chuyện với tôi bằng nét nhạc lung linh Hoài bão, ước mơ thế giới của tâm tình

Và những ngôi sao xanh đêm đêm không ngủ Nghiêng cánh về tôi lặng im tâm sự

Một người sinh ra không chết bao giờ

Khi giữa thời gian để lại một vần thơ.

Một tâm hồn thơ giàu lãng mạn và lạc quan, muốn "vươn đến một giá trị nào đó cao hơn hiện thực", phải chăng đó là: Tình yêu và Niềm tin:

"Tình yêu là Mặt trời của người thi sĩ

Niềm tin là ngọn lửa bảo vệ chân lý".

264KHÉP LẠI PHẦN I

GIÃ BẠN

Các bạn tổ 1 cựu sinh Thăng Long (Ngõ Trạm - Hà Nội) thân mến.

Chị Sinh báo cho tôi biết hôm nay là ngày họp cuối cùng của tổ, rồi chia tay với các hội viên. Tổ ta nhờ công lao của các đồng chí như Ngô Duy Cảo, Nguyễn Văn Tấn và nhiều đồng chí khác đã dày công chung sức chung lòng vun đắp nên, tồn tại được đến nay có lẽ cũng trên hai chục năm. Trong số hội viên ban đầu có người đã rút lui vì tuổi già sức yếu, có người đã ra đi vĩnh viễn nhưng tổ cũng đã kết nạp thêm một số hội viên mới.

Trải qua một thời gian dài, tập thể ta đã phát huy được tình đoàn kết, trao đổi tâm tình, ôn lại truyền thống Thăng Long cũ, động viên nhau, giúp đỡ nhau những lúc hoạn nạn khó khăn. Bây giờ phải chia tay nhau cũng là đáng buồn và bất đắc dĩ. Quy luật sinh tử của trời đất đã khiến nhiều hội viên ngày càng cao tuổi và sức khỏe suy sụp. Anh Ngô Duy Cảo bây giờ không thể rời khỏi phòng nữa. Mùa hè năm ngoái anh Nguyễn Văn Tấn lò dò lên tầng 3 thăm tôi, trao món quà của tổ. Đó là một cuộc họp mà tôi đã chuẩn bị chỉnh tề để sang họp thì mưa sầm sập đến nên đành lỡ hẹn.

265"Thanh niên" Nguyễn Văn Tấn vẫn chải chuốt như ngày nào, nhưng phong độ đã giảm sút, da dẻ sạm hơn, đi đứng không còn vững chãi như trước. Ngồi với nhau được một lúc thì anh ra về, tôi định cho người tiễn đưa anh xuống cầu thang, anh từ chối, nói rằng anh tự xuống được. Nhìn anh ra về với những bước đi thập thõm mà lòng buồn rười rượi. Buồn cho anh, và cũng buồn cả cho tôi.

Vì tất cả chúng ta đều đã gần đất xa trời, nay ở, mai về không ai đoán trước được. Cho nên cuộc họp chia tay hôm nay là cần thiết, còn hơn là tự dưng rút lui không kèn không trống. Hôm nay chính là lúc chúng ta cùng nhau tâm sự lần cuối đậm đà tình nghĩa, mỗi người trong chúng ta tri ân tất cả các hội viên khác đã không tiếc công sức bảo đảm sinh hoạt của tổ được duy trì đều đặn hằng tháng, hằng năm.

Mai đây dù có thế nào
Tình đời vẫn đẹp sáng đẹp ngời bên nhau
Nơi về, bến đợi bến chờ
Trăng rằm soi sáng nẻo về hư vô.
Trong các bạn đây ai sẽ là người về trước, điều đó khó mà đoán được. Nếu có bạn nào sớm về thì xin hãy thông cảm trước là nhiều hội viên sẽ không còn đủ sức lê tấm thân mòn mỏi đến tiễn biệt và đưa bạn đến nơi an nghỉ cuối cùng. Song bạn hãy tin trái tim các bạn ấy vẫn luôn ở bên bạn, nặng nghĩa sâu tình. Theo Đạo Phật và 266Triết lý phương Đông, sống gửi, thác về, cuộc sống nơi trần thế chỉ là ở tạm, và cuối cùng sẽ đến lúc "Về". Chết tức là về, trở về nguồn gốc tận cùng của mình. Sinh ra từ đất, ta trở về với đất, là cát bụi, ta trở về với cát bụi! Bất kể thế nào, tình người vẫn là đạo lý muôn thuở cho ta sức mạnh để vượt qua mọi thác ghềnh và mọi thăng trầm của cuộc sống, để đưa chúng ta về nơi cực lạc. Nghĩ vậy thì cái chết không có gì đáng sợ, nếu chúng ta sống xứng đáng làm tròn bổn phận của mình với Tổ quốc và dân tộc, không có gì phải ân hận và nuối tiếc thì đó là hạnh phúc tột cùng của chúng ta.

Xin chúc các bạn tiếp tục sống yên bình, hạnh phúc trong những năm còn lại và thanh thản "về" khi mệnh trời đến đón ta đi, với niềm tin bất diệt về tiền đồ xán lạn của Tổ quốc ta.

267Phần 2

HỒI ỨC VỀ LÊ TỤY PHƯƠNG 75 NĂM THƯƠNG NHỚ MÌNH LUÔN Ở BÊN TÔI

C268ùng nhau đi trọn cuộc đời, 75 năm thương nhớ, mình đã đi trước tôi, nhưng tôi cảm nhận mình vẫn ở bên tôi.

Năm 1935 khởi đầu giai đoạn quyết định đối với cuộc đời và sự nghiệp của hai người, đó là: trưởng thành về học vấn và nhân cách, dấn thân cho cách mạng do Đảng lãnh đạo nhằm mục tiêu dân tộc độc lập và chủ nghĩa xã hội.

Đó cũng là thời điểm và cơ hội gặp gỡ, kết bạn, ngày càng hiểu nhau, đến với nhau trong những tình cảm chân thành, rồi thành vợ, thành chồng.

Tình yêu, tình vợ chồng, cũng là tình đồng chí, hai người đã sát cánh bên nhau, thủy chung đi trọn cuộc đời!

269Chương 9

TAI BIẾN - NGÀY ĐỊNH MỆNH

I. NGÀY ĐỊNH MỆNH

Tai họa bất thình lình ập xuống sáng ngày 5 tháng 3 năm 1982, một ngày có duyên nợ với NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ (8 tháng 3).

Khoảng 11h30, tôi đang xếp tài liệu vào cặp chuẩn bị ra về; chuông điện thoại reo. Diệu Anh báo tin khẩn cấp: "Mẹ ốm, giống bà ngoại, bố về ngay". Xe cơ quan đưa tôi về thẳng nhà. Bác sĩ Khánh của Phòng bảo vệ sức khoẻ số 3 (Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô) đang có mặt. Tụy Phương nằm bất động, mắt nhắm nghiền, trên chiếc nệm đặt trên sàn nhà theo kiểu Nhật, mình đắp chăn dạ. Tôi gọi xe cấp cứu. Băng ca không đi lọt khúc gấp của cầu thang, Tụy Phương được đặt trên chăn dạ, bốn người nắm bốn góc chăn khiêng xuống hết hai cầu thang mới đặt vào cáng đưa vào xe. Tôi lên xe theo vào bệnh viện. Cứ ngỡ xe chở bệnh nhân phải chạy rất êm, ngược lại nó rung bần bật, khiến tôi đã lo càng thêm lo lắng, may chỉ mười lăm, hai mươi phút đã tới bệnh viện.

Tụy Phương được đưa vào khoa cấp cứu lưu, lúc này, Tụy Phương đã tỉnh. Bác sĩ phòng khám nâng hai chân, 270cầm chiếc búa gỗ đầu cao su, gõ gõ vào hai đầu gối. Đầu gối chân phải không có phản xạ: Tụy Phương bị tai biến mạch máu não.

Họ điện cho khoa Thần kinh xuống nhận bệnh nhân. Mấy chị kéo xuống, một chị bỗng kêu: "chết chửa, chị Tụy Phương" rồi sáp vào, cùng các chị khác khiêng lên phòng cấp cứu khoa Thần kinh ở tầng hai nhà E. Tôi được biết, người nhận ra Tụy Phương là bác sĩ Thục, Phó Chủ nhiệm khoa, tạm thay chủ nhiệm khoa đi tu nghiệp ở Liên Xô. Chị Thục biết Tụy Phương từ nhiều năm nay, đã mấy lần chữa bệnh cho Tụy Phương, đã vài lần nghe Tụy Phương nói chuyện, cũng biết ít nhiều về gia đình, chồng, con...

Hơn chục năm về trước, một lần đi khám bệnh (kể từ khi về thủ đô, đây là lần đầu tiên Tụy Phương đi khám và nằm viện), người ta phát hiện Tụy Phương bị huyết áp cao giai đoạn hai, tức là đã ủ bệnh từ lâu mà không biết để sớm chữa trị và phòng ngừa. Khi ra viện, mặc dù đã được cảnh báo, Tụy Phương vẫn theo nếp quen, luôn say mê, hăng hái, sôi nổi lao vào công việc, không tiếc sức mình, không nề bom đạn, hiểm nguy thời chiến tranh chống Mỹ, cho đến khi về hưu cuối năm 1975, miền Nam đã được giải phóng, Tổ quốc đã thống nhất.

Khi tham gia Ban Xã hội, khi là biên tập viên báo Phụ Nữ Việt Nam (Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam), khi là Tổ phó Tổ Nghiên cứu tâm sinh lý trẻ em (Ủy ban Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ em), ngoài thời gian 271làm việc ở cơ quan, ngoài quán xuyến việc gia đình, chăm lo con cái và nội trợ, Tụy Phương thực hiện nhiều chuyến đi, rong ruối trên xe đạp, may mắn gặp ô tô tải của bộ đội tiện đường thì đi nhờ một đoạn... Gần thì Gia Lâm, Yên Viên, xa thì Hưng Yên, Sơn Tây, xa hơn nữa thì Hải Phòng, Kiến An, Quảng Ninh, Tuyên Quang... Có lần, Tụy Phương đạp xe một mạch từ Hải Phòng đi Quảng Ninh, xong việc quay về, cả đi và về 80 cây số, rất phấn chấn, không cảm thấy mệt mỏi quá sức, nghỉ một đêm, hôm sau lại tất bật vào công việc mới.

Công việc Tụy Phương là đi các cơ sở, thâm nhập thực tế, tổng kết và xây dựng điển hình, phổ biến kiến thức, kinh nghiệm, lấy tư liệu viết bài cho báo, viết sách cho Nhà xuất bản Kim Đồng, viết báo cáo và tham luận tại các hội nghị chuyên ngành... Một công việc Tụy Phương rất hứng thú, dành nhiều tâm huyết, sức lực, thời gian là những cuộc nói chuyện trước số đông về các đề tài liên quan đến trẻ em, thiếu nhi, thanh niên, đặc biệt nữ thanh niên, như: tâm lý trẻ em, phương pháp nuôi dạy trẻ, gương người tốt việc tốt ở các nhà trẻ và mẫu giáo, nét đẹp của nữ thanh niên Việt Nam, lý tưởng nữ thanh niên thời đại mới, gia đình văn hóa mới...

Những cuộc nói chuyện ấy, hoặc do Tụy Phương chủ động đề nghị, phần lớn do cơ quan, đoàn thể tổ chức và mời. Tụy Phương thực hiện hàng trăm cuộc nói chuyện tại nhiều nhà máy ở Hà Nội, Hải Phòng, Hòn Gai, Cẩm Phả... trường Đại học Ngoại thương, Đại học Bách khoa, trường Thanh niên, trường Đại học Thể dục Thể thao 272Từ Sơn, khu Văn công Mai Dịch, Hội nghị Phụ nữ toàn thành phố Hà Nội (chị Nguyễn Khoa Diệu Hồng - Chủ tịch Hội triệu tập), nói chuyện với nhân dân xã nơi Tụy Phương đến thăm, nhân dân khu phố ở nhiều nơi, vài lần tại bệnh viện Hữu nghị Việt Xô. Có lần chị Thường, vợ anh Nguyễn Đình Thi, Giám đốc bệnh viện đề nghị Tụy Phương nói chuyện với công nhân đang thi công nhà E, động viên anh chị em tăng tiến độ, hoàn thành đúng kế hoạch xây dựng...

Tiếng lành đồn xa, vào các dịp thuận lợi hoặc các ngày lễ quan trọng của Phụ nữ, Thanh niên, đặc biệt ngày 8 tháng 3, nhiều nơi cử người đến mời Tụy Phương tới nói chuyện. Có ai đến Hội Phụ nữ mời thì đều được giới thiệu liên hệ với Tụy Phương.

Ngoài những việc trên, Tụy Phương còn nhận nhiệm vụ tổ chức trại sơ tán trẻ em Trại Nhi đồng Trung ương và một số học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông (con cái cán bộ Hội) tại Lập Thạch, Vĩnh Phúc thời chống Mỹ. Công việc này đã giữ Tụy Phương ở đây vài năm. Tụy Phương tìm địa điểm sơ tán cơ quan Phụ nữ, làm công tác dân vận ở địa phương, ở đây một thời gian dài, thỉnh thoảng mới về Hà Nội đôi ba ngày. Chị Chân Phương (có con gửi trại) có lần động viên: "Chị Tụy Phương là đại sứ sơ tán".

Từ khi nghỉ hưu cho đến lúc xảy tai biến (hơn 6 năm từ tháng 11/1975 đến 5/3/1982) Tụy Phương tích cực hoạt động xã hội tại nơi cư trú và tiếp tục những cuộc nói 273chuyện. Tôi khuyên Tụy Phương nên từ chối những lời mời, trừ phi, như Tụy Phương nói, vì tình vì nghĩa không thể chối từ.

Sự xả thân của Tụy Phương suốt thời gian dài không ngơi nghỉ trong hoàn cảnh chiến tranh gian khổ, thiếu thốn, khi trong mình đã mang bệnh nguy hiểm, chính là nguồn gốc sâu xa của đột qụy tháng Ba. Song, đột qụy có thể đã không xảy ra, nếu không có nhân tố trực tiếp gây đột biến, đó là những cuộc nói chuyện, những cuộc tiếp khách dồn dập, liên tục lên xuống cầu thang tiễn khách trong các ngày 2-3-4 tháng 3 và buổi sáng ngày 5/3/1982. Ngày Quốc tế Phụ nữ tới gần. Hơn hai chục cơ quan cử người đến mời Tụy Phương. Theo lời khuyên của tôi, Tụy Phương chỉ nhận lời với năm, sáu cơ quan, trong đó có Đoàn Thanh niên mà Tụy Phương gắn bó trong nhiều năm, Tổng cục Hậu cần, dự định tổ chức họp mặt năm sáu trăm chiến sĩ nam nữ, một công ty dệt may... và xếp lịch rải ra từ ngày 2/3 đến 8/3. Theo Diệu Anh kể thì trong ba ngày liền, từ 2 đến 4/3, ngày nào Tụy Phương cũng thực hiện một hoặc hai cuộc nói chuyện, ngoài ra là tiếp khách. Mỗi khi phải từ chối, trân trọng nhiệt tình của họ, Tụy Phương không đành lòng để họ thất vọng ra về mà không được gì, nên với mỗi người, Tụy Phương đều dành thì giờ trao đổi thân tình, thăm hỏi cặn kẽ tình hình nội bộ cơ quan, gợi ý và cùng bàn bạc những nội dung nên nói, động viên họ tự tin "tự biên tự diễn" khiến họ yên tâm, vui vẻ ra về.

274Phong cách tiếp khách của Tụy Phương từ xưa tới nay vẫn vậy, như một cuộc gặp gỡ bạn bè, một cuộc trao đổi tâm tình, cởi mở, chân thành, chu đáo. Có lẽ nhờ vậy mà Tụy Phương ngày càng có thêm nhiều bạn mới và hiểu biết thêm về người, về đời.

Cũng theo Diệu Anh, chiều ngày 4/3 Tụy Phương tỏ ra rất mệt mỏi. Sáng ngày 5/3, một đơn vị đưa xe đến đón theo kế hoạch. Tụy Phương rất mệt, đành phải đề nghị lùi buổi nói chuyện. Tiễn khách xuống chân cầu thang, lên nhà, Tụy Phương còn lấy chổi quét hành lang rồi phòng giữa. Đến lúc ấy, Tụy Phương vẫn không nhận ra sự lao tâm, lao lực từ mấy hôm trước đến sáng hôm đó đã vượt quá sức chịu đựng của mình. Đó chính là nguyên nhân trực tiếp gây ra đột quy. Đang quét, Tụy Phương bỗng thấy bủn rủn chân tay, ngồi phệt xuống đất, lưng chạm khuôn cửa, rồi cố lết, nằm xuống nệm (trải trên sàn làm giường), gọi Diệu Anh đang nấu cơm trong bếp (Diệu Anh lúc đó mới sinh, đưa con về ở nhà từ vài hôm trước nên lúc đó có mặt). Lúc đó khoảng 11giờ trưa. Diệu Anh vào đắp chiếc chăn dạ lên người mẹ, chạy sang viện Đông Y cầu cứu không được, liền gọi điện nhờ cậy Phòng bảo vệ sức khỏe, bác sĩ Khánh đến ngay.

Sau này Diệu Anh kể: Mẹ đã hôn mê. Bác sĩ Khánh đo huyết áp, huyết áp rất cao, trên 180, làm test, gõ đầu gối phải, không có phản xạ, cánh tay phải bị liệt, vậy là mẹ mắc bệnh giống bà ngoại rồi! Bác sĩ Khánh tiêm thuốc cho mẹ, bảo có mấy điều may: mẹ không đập đầu 275xuống đất, không ngồi mà nằm ngay, sơ cứu kịp thời. Có hai điều may nữa là, ngoài Tuệ, Diệu Anh đang có mặt, kịp thời thông báo cho Phòng bảo vệ, tôi về ngay sau đó, đưa ngay Tụy Phương vào bệnh viện cấp cứu.

Chiều và đêm đó, tôi ở lại bệnh viện chăm nom Tụy Phương. Diệu Anh và Việt Triều đều bận con nhỏ, chỉ còn Tuệ (con nuôi) và hai con rể Bắc và Kim là lui tới bệnh viện một lúc rồi về, nhiều lúc chỉ mình tôi bên cạnh Tụy Phương. Tôi cũng chỉ kịp sang quán cóc trước cửa bệnh viện ăn qua quýt cho xong, rồi cứ ngồi như đóng đinh cạnh giường bệnh. Tụy Phương đang được truyền dung dịch, lúc mê, lúc tỉnh. Bác sĩ Thục trực chiều và tối, thỉnh thoảng vào xem xét tình trạng bệnh.

Khoảng 7 giờ, chị Thục gọi tôi ra ngoài, chị băn khoăn: - Em cố gắng hạ huyết áp nhưng vẫn còn cao.

Lát sau, một bác sĩ nam, có lẽ Giám đốc hay Phó Giám đốc bệnh viện, gặp tôi với tư cách thay mặt gia đình bệnh nhân. Anh nói: - Bệnh viện hết sức chữa trị với trách nhiệm cao nhất, còn nước còn tát, nhưng bệnh này nguy hiểm, không thể nói trước điều gì, gia đình nên chuẩn bị tinh thần...

Tình thế nghiêm trọng, tôi cố trấn tĩnh nỗi lo sợ.

Tụy Phương như đang mê, bỗng mở mắt nhìn quanh, thình lình ngóc đầu lên hét to: - Bỏ ra, bỏ ra. Tôi hiểu ngay, Tụy Phương đòi bỏ dây truyền, ngừng truyền dịch. Tụy Phương vốn rất sợ truyền dịch. Tôi vội đỡ Tụy 276Phương nằm xuống: - Tôi đây, Phương yên tâm, không sao đâu.

Chợt nhớ từ trưa tới giờ, Tụy Phương chưa ăn uống gì. Tôi ra trước cổng bệnh viện mua cam sần da xanh, dầy. Cam đắt như vàng. Cố vắt kiệt nửa trái cũng chỉ được gần một chén tống. Tôi cho Tụy Phương uống từng thìa nhỏ, cũng được một trái cam.

Tôi theo dõi cẩn trọng, thỉnh thoảng coi đồng hồ, đếm giọt rơi trong ống nhựa, cứ đều đều 20 giọt/phút như ghi trên y lệnh là yên tâm. Y tá dặn, nếu thấy mặt vã mồ hôi, sờ trán thấy lạnh toát thì bóp chặt ống dẫn và gọi y tá, đó là dấu hiệu sốc. Tôi cũng biết sốc rất nguy hiểm, có thể gây tử vong, nên không ngừng quan sát nét mặt, thỉnh thoảng sờ trán, không dám rời một phút.

Tôi khẽ lật người Tụy Phương kiểm tra vệ sinh. Tụy Phương đã bài tiết. Định gọi y tá nhưng lại ngại, không biết họ có chịu làm vệ sinh cho Tụy Phương không, hoặc vừa làm vừa cằn nhằn. Tuệ thì còn hai tiếng nữa mới vào thay phiên. Không thể để Tụy Phương nằm lâu trên đống dơ. Loay hoay một lúc rồi tôi quyết định tự làm. Ban đầu lúng túng vụng về, nhưng rồi cũng xong. Thật ra, cũng chẳng có gì phức tạp lắm, miễn là không sợ bẩn, mà với vợ tôi thì tôi không sợ bẩn. Tính tôi đã làm việc gì thì làm chu đáo, đến từng chi tiết. Cuối cùng thì mọi cái cũng trơn tru, dọn sạch đống dơ, lau mình, thay xong áo cho vợ, rút bỏ chiếc khăn bông to lót lưng, tấm drap trải giường trắng muốt vẫn sạch sẽ, tinh tươm. Việc sau cùng 277là xóa dấu tích. Nhìn quanh phòng chỉ có chiếc chậu sứ, tôi trút cả đống dơ vào đó, vặn vòi nước, xả cho trôi hết, rồi lau chùi sạch sẽ, nghĩ bụng chậu sứ bệnh viện cũng thật là bẩn, tưởng như phát hiện một điều mới mẻ!

Sáng hôm sau, cô y tá vào, thấy đồ bỏ ở góc phòng, biết chuyện, nói: - Ở buồng bên có một chậu tôn to, bác bỏ đồ dơ vào đó, sáng ra hộ lý sẽ đem đi giặt giũ. Lần sau, bác cứ gọi chúng em, đó là nhiệm vụ chúng em.

Khoảng 22 giờ đêm. Tuệ vào thay tôi trực đêm.

II. NHỮNG NGÀY THẤP THỎM LO ÂU

Ngày 6/3/1982 - ngày thứ hai ở bệnh viện, tôi hỏi bác sĩ Thục:

- Chị "tiên lượng" (thuật ngữ ngành Y) thế nào?

- Lúc này chưa thể nói gì được. Sau 3 ngày, 7 ngày, 9 ngày mà hết hôn mê thì chị sống.

Nghe mà rùng mình. Tức là phải vượt qua các mốc ngày 7, ngày 11, ngày 13. Ẩn số còn ở phía trước, cái chết luôn rình rập, sự sống như một sợi chỉ mỏng manh.

Tôi tổ chức trực 24/24. Bốn người có thể huy động tại chỗ là Tuệ đang ôn thi tốt nghiệp trung học phổ thông, hai con rể Bắc - chồng Việt Triều, Kim - chồng Diệu Anh và tôi. Diệu Anh, Việt Triều đều bận con mọn. Chia 4 ca/ ngày, lấy mốc 6 giờ - 12 giờ, thay nhau túc trực cả ngày lẫn đêm. Cha, con thống nhất định bảng phân công cho từng ngày. Trừ chủ nhật tôi ở cả ngày trong bệnh viện 278để các con nghỉ, còn ngày thường thì trực tối và đêm. Tôi ngại đi về ban đêm, nên hết phiên trực tối, tôi ở luôn bệnh viện, ngủ trên đi-văng gỗ trong hành lang, nếu phải trực đêm thì cũng đến sớm từ buổi tối cho tới sáng hôm sau. Xe cơ quan đưa về nhà, tôi đạp xe vào bệnh viện, đôi khi tạt vào Bộ Nông nghiệp hay Bộ Tài chính làm việc (khi có hẹn trước), sáng sớm hôm sau đạp xe về nhà, chờ xe cơ quan đến đón. Cũng có khi xe cơ quan đưa thẳng đến bệnh viện, sáng hôm sau đến đón tại bệnh viện.

Sinh hoạt ít nhiều bị đảo lộn, thất thường. Tôi thường ăn cơm "bụi", có gì ăn nấy, gặp đâu ăn đấy, tiện lúc nào ăn lúc ấy. Nhưng lúc này, điều đó không quan trọng. Tất cả tâm trí tôi dồn cho vợ, nhất là tối và đêm, và những giờ phút đầu óc không bận bịu công việc. Ban ngày, tôi đi làm, quanh năm bề bộn toàn những vấn đề quốc kế dân sinh quan trọng, cần được giải quyết kịp thời. Tôi dồn tất cả nghị lực, cố giữ đầu óc tỉnh táo, sáng suốt tập trung vào công việc. Ngày thì vậy, còn tối và đêm là vương quốc của tôi dành riêng cho vợ. Hầu như toàn bộ thời gian từ khoảng 18 giờ chiều hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau, tôi "sống" trong bệnh viện, trực tối hoặc trực đêm, không trực thì quanh quẩn phòng cấp cứu hay loanh quanh trong khuôn viên, hồi hộp, phấp phỏng theo dõi từng chuyển biến nhỏ của người bệnh.

Tôi đếm từng ngày. Nhiều ngày liền, vợ tôi ngủ li bì, như thiếp đi, nằm bất động trên giường, liên tục truyền dịch. Khi trực, tôi thầm mong vợ tôi tỉnh dậy, dù chỉ chốc 279lát. Tôi ngắm nhìn gương mặt Tụy Phương. Ngày thường, gương mặt vợ tôi, khi ngủ cũng như khi thức, luôn ánh lên những nét tươi sáng dịu hiền; bây giờ vẫn gương mặt trái xoan ấy, hơi xanh và gầy đi, nhưng sao lặng ngắt, lạnh lùng, vô cảm. Tôi hoảng sợ, thấy đau nhói trong tim, nước mắt chỉ chực trào ra. Tôi cầm tay bắt mạch, mạch hình như chậm. Tôi đặt tay lên trán tôi rồi trán Tụy Phương, không có dấu hiệu bất thường. Đang xảy ra chuyện gì? Có một khoảnh khắc, Tụy Phương mở mắt. Không phải. Mắt chỉ hé mở. Đôi mắt hé mở đờ đẫn, không có thần. Đâu rồi, đôi mắt luôn tỏa ánh long lanh, trong sáng, rất hiền của một tâm hồn rộng mở, nhân hậu, nhạy cảm, luôn tràn đầy lạc quan, tình yêu người, yêu đời, làm rạng rỡ khuôn mặt luôn nở nụ cười trên môi - đôi mắt và nụ cười đã làm tôi say đắm từ thời trẻ cho đến tận bây giờ. Tôi khẽ gọi: - Phương ơi! Phương ơi!

Tôi cố trấn tĩnh mà không ngăn được nước mắt ràn rụa. Đã xảy ra sự cố gì mà tôi không biết chăng? Trong các phiên trực của tôi, không xảy ra biến chứng gì. Sau này tôi mới biết, Tuệ đã ba lần phát hiện sốc, báo y tá xử lý kịp thời, nhưng không báo cho tôi biết ngay, sợ tôi choáng váng.

Đó là những ngày, những đêm hết sức nặng nề. Ai đó nói, hôn mê, hôn mê kéo dài, rồi hôn mê nông, hôn mê sâu... những từ ghê rợn làm tôi ớn lạnh, tôi chẳng cần hiểu nó nghĩa là gì, quên nó đi, chỉ ghi nhận một điều là vợ tôi, Tụy Phương, đang ngủ, chỉ có thế thôi. Tôi đau 280đớn không làm được gì cho vợ, bất lực trước tình cảnh ấy, bất lực hoàn toàn. Buồn bã. Đau đớn!

Một đêm, lang thang trong sân bệnh viện, tôi thấy một bà đứng ở chỗ trống, tay cầm nắm hương tỏa khói, mắt ngước lên trời, lầm rầm khấn vái. Tôi biết bà đang cầu Trời, khấn Phật phù hộ cho người thân đang nằm viện được tai qua, nạn khỏi.

Từ thuở thanh niên đi theo cách mạng, học chủ nghĩa Mác-Lênin, học triết học, tôi theo học thuyết duy vật, không tin chuyện thần thánh. Nhưng TÂM LINH, có hay không? Tôi nghĩ gì, tâm niệm gì khi đứng trước bàn thờ, khấn vái ông bà, tổ tiên? Bất giác tôi đứng lặng, chắp tay, ngước nhìn lên trời, cầu Trời khấn Phật hỗ trợ bệnh viện, phù hộ cho vợ tôi qua cơn hiểm nghèo. Dù không có hương để đốt, tôi mong cái TÂM của tôi sẽ động tới TRỜI, PHẬT.

Thêm vài ngày "ngủ" nữa, đến ngày thứ sáu, thứ bảy, vợ tôi bắt đầu tỉnh, rồi tỉnh nhiều hơn, thời gian cũng dài hơn, có dấu hiệu phục hồi trí nhớ và nhận thức. Một buổi sáng, nhạc sĩ Phạm Văn Chung (em họa sĩ Phạm Văn Đôn, đều là bạn của chúng tôi từ trước Cách mạng Tháng Tám) cũng đang nằm viện, vào phòng thăm Tụy Phương. Tôi chưa kịp nhớ ra tên anh, thì Tụy Phương đã gọi tên anh. Đó là thời khắc đáng nhớ, cất đi gánh nặng đè trĩu tâm trí những ngày dài vừa qua. Tụy Phương đã qua được một bước đoạn trường, nhóm lên ngọn lửa hi vọng cho những ngày tới. Chỉ còn dăm ngày nữa là vượt qua 281giai đoạn nguy kịch. Không biết có phải nhờ Trời, Phật đã động lòng hay không, nhưng dù tin hay không tin, tin nhiều hay tin ít, thì vẫn phải cảm tạ Trời, Phật. Như đà điều rúc đầu vào cánh, nay ngẩng đầu lên, tôi đã trở lại tỉnh táo, thanh thản hơn và tràn đầy hi vọng.

Anh Chung cũng bị tai biến mạch máu não đã hai năm, mới vào viện vài ngày để kiểm tra. Tôi để ý thấy anh đi đứng rất ngay ngắn, không thấy dấu hiệu gì của hội chứng liệt nửa người. Tôi sang thăm, anh đang nằm đọc sách. Tôi hỏi:

- Anh vẫn đọc sách được?

Anh bảo:

- Tôi vẫn đọc được, nhưng mệt hơn trước, được một, hai tiếng thì phải nghỉ.

Từ trên gác, tôi nhìn phía sau anh đang đi trong sân. Tư thế, dáng đi hoàn toàn bình thường, không thấy một dấu vết hậu quả nào của bệnh. Tôi mừng quá, càng vững tin Tụy Phương sẽ vượt qua thử thách nghiệt ngã, sẽ nhanh chóng trở lại cuộc sống bình thường. Trường hợp anh Chung chứng tỏ điều đó.

Vài người mách, nếu dùng thêm liệu pháp xoa bóp thì mau khỏi hơn. Tôi hỏi bác sĩ Thục thì được trả lời, phải đợi qua cơn nguy kịch này đã.

Tôi cùng các con chăm sóc Tụy Phương rất cẩn trọng, chu đáo, tỉ mỉ, tự làm những việc có thể làm, trừ lĩnh vực 282chuyên môn cần tay nghề của y tá. Đến mức một hôm, chị Thục bảo tôi:

- Anh nói với các cháu giao những việc thuộc nhiệm vụ y tá cho chị em, nếu không họ chẳng còn gì để làm. Tụy Phương hỏi tôi:

- Phương liệu còn sống được bao lâu? Thêm được 5 năm không? - Câu hỏi như xuyên vào tim tôi.

- Sao lại 5 năm, ít nhất cũng 10 năm, và chắc phải hơn thế. Tôi trả lời.

Thật ra, tôi không biết gì nhiều về căn bệnh này, một số bệnh nhân tôi biết thì ít người sống đến 10 năm. Tôi nói liều để vợ tôi yên tâm giữ vững niềm tin và hi vọng, mà cũng là tự trấn tĩnh. Vợ tôi có vẻ tin và yên tâm thật. Tôi đem câu hỏi này hỏi bác sĩ Th mà tôi quen biết từ khi anh còn là y sĩ tại Văn phòng Phủ Thủ tướng, nay cũng làm việc tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô. Anh nói, Pasteur cũng bị tai biến mạch máu não, sống thêm hàng chục năm, những công trình sáng tạo vĩ đại của ông ra đời chính trong thời gian này. Tôi không biết tiểu sử Pasteur, chưa biết đúng sai thế nào, nhưng cứ tin cái đã, nó sẽ củng cố niềm tin và hi vọng ở Tụy Phương, và cả ở tôi. Tôi thuật lại cho Tụy Phương nghe và nói:

- Mình sẽ sống lâu, không những thế, vẫn giữ được khả năng tư duy, sự minh mẫn. Tụy Phương có vẻ tin và vui.

283Một chị ở Văn phòng Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ mới nhập viện đi qua phòng cấp cứu, nhận ra Phương liền về ngay cơ quan loan báo. Thế là các chị cơ quan, các bà mẹ của các cháu đã từng ở các "trại cô Phương" từ thời Khe Khao (Bắc Kạn) đến Lập Thạch (Vĩnh Phúc) hàng ngày nườm nượp vào thăm hỏi. Bác sĩ Thục nói:

- Khoa Thần kinh chưa có bệnh nhân nào nhiều người vào thăm đến thế. Anh nói các cháu đóng cửa phòng, ngăn không để khách vào thăm; thời gian nguy hiểm chưa hết hẳn đâu. Chị rất cần được yên tĩnh và thư thái, chị không được nói nhiều.

Những phiên tôi trực, tôi luôn phải mở cửa ra gặp khách, nói lời xin lỗi, cũng nói qua bệnh tình của Tụy Phương để các chị yên tâm. Trong một phiên trực của Tuệ, chị Hoàng Thị Ái'" đã 83 tuổi tới, gõ và mở cửa phòng, Tuệ ra ngăn. Chị Ái bảo:

- Mày không biết tao với mẹ mày là thế nào với nhau đâu, phải để tao vào thăm.

Tôi đếm từng ngày. Từ ngày 5/3, đã qua ngày Quốc tế Phụ nữ 8 tháng 3 năm 1982 đến hôm nay đã là 12 - 13/3, đã vượt được 2/3 chặng đường khổ ải. Thể trạng vợ tôi ngày một khá hơn, những giấc ngủ li bì ít dần và ngắn 284hơn, thời gian thức và tỉnh ban ngày nhiều hơn, nhất là Tụy Phương tỉnh táo hơn, đôi mắt đờ đẫn trong mấy ngày đầu đã dần trở lại đôi mắt sáng thông minh, hiền dịu. Đến lúc này, tôi đã có thể tin chắc vợ tôi sẽ vượt qua cuộc thử thách nghiêm trọng nhất của số phận.

(') Hoàng Thị Ái (1900-2005) nguyên Bí thư Phụ nữ cứu quốc, Bí thư Đảng Đoàn - Phó Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam.

Đến ngày 14 tháng 3 (đã qua 10 ngày đêm cấp cứu) thì mọi người hoàn toàn yên tâm. Bệnh viện giữ Tụy Phương ở thêm hai ngày nữa rồi chuyển sang phòng bên cạnh, tôi tạm gọi là phòng điều dưỡng và phục hồi chức năng. Theo tôi hiểu, ở giai đoạn này, việc điều trị nhằm củng cố kết quả của giai đoạn cấp cứu, đồng thời sơ bộ phuc hồi chức năng, như tập ngồi dậy trên giường, tự xúc cơm ăn... Y tá xoa bóp hằng ngày...

Việc trực không căng thẳng như trước, chỉ cần hai người thay phiên nhau, thường là tôi và Tuệ, những ngày nghỉ hai người con rể thay nhau vào trực đỡ. Ban đêm có thể ngủ bên cạnh bệnh nhân trên chiếc giường xếp cá nhân chứ không phải thức trắng đêm như trước. Sau hai tháng chữa trị, Tụy Phương ra viện về nhà.

Trong hai tháng cùng các con chăm sóc Tụy Phương, tôi hiểu thêm nhiều điều về phẩm cách Tụy Phương.

Tụy Phương kể lại, khi bủn rủn tay chân, Phương muốn lấy thuốc cấp cứu vẫn để dự phòng trong túi áo mà không được. Khi lết vào nằm trên nệm trải trên sàn 285nhà, Phương nghĩ: "Phải nằm ngay ngắn, không để anh Ngọc về thấy mình nằm chết co quắp xấu xí". Ý nghĩ vụt hiện trước khi rơi vào hôn mê nói lên điều gì? Thứ nhất, Tụy Phương nghĩ là mình chắc không sống được.

Thứ hai, khi chết cũng phải có tư thế "nằm ngay ngắn", đó là thái độ tự trọng, coi trọng nhân phẩm. Cũng ví như khi ta ra đường, ở nơi công cộng, vào một công sở, vào nhà người khác... cần mặc chỉnh tề, sạch sẽ, tư thế đứng đắn, xử sự có văn hóa,... Đó là biểu hiện của sự tự trọng và sự tôn trọng người khác.

Thứ ba, "không để anh Ngọc về thấy mình nằm chết co quắp xấu xí", vì muốn tránh cho anh sự đau khổ tột cùng trước một cảnh chết thê thảm "co quắp xấu xí, vì muốn anh "lưu giữ một hình ảnh đẹp đẽ về mình sau khi mình chết". Trong tâm tưởng của Tụy Phương đó là sự chuẩn bị cuối cùng, ý nghĩ cuối cùng, là tâm nguyện trước khi ra đi (Tụy Phương tưởng thế). Nghĩ về mình, mà thực ra là nghĩ về người, người ấy là TÔI. Trong một câu chỉ 17 từ mà chan chứa, dồn nén bao nhiêu tình sâu, nghĩa nặng: cho TÔI, cho NGƯỜI, cho ĐờI.

Khi Tụy Phương hỏi: - Phương liệu còn sống được bao lâu, thêm được 5 năm không? Giọng nói bình thản gần như lạnh lùng như sự ước lượng thời gian trung tính, vô tri vô giác, vừa ẩn chứa sự tiếc nuối cuộc sống, lòng yêu đời, vừa sẵn sàng đối mặt với số mệnh. Tụy Phương hỏi người mà cũng là tự hỏi mình.

286"Sống được bao lâu", bản thân câu hỏi đã ẩn ý tiên liệu một thời gian ngắn ngủi. "Thêm được 5 năm không?" 5 năm chỉ là một khoảnh khắc trong đời người, hi vọng chỉ nhỏ nhoi thế sao? Còn gì đau đớn hơn? Chỉ 5 năm thôi thì cái chết đã lù lù trước mắt, nào có xa xôi gì. Vẫn hi vọng, nhưng cũng sẵn sàng chấp nhận định mệnh. Một bn lĩnh c nhà hiển triết?

III. PHỤC HỒI CHỨC NĂNG (PHCN)

Những ngày đầu về nhà, vợ tôi vẫn phải được chăm sóc tại giường. Sáng sáng, Tuệ làm vệ sinh, nhưng cũng có bữa vắng mặt vì đang thi tốt nghiệp trung học phổ thông. Khi đó, tôi làm thay, bây giờ thành thạo rồi.

Tôi lùng các hiệu sách, tìm được cuốn "Phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não" mừng quá, đọc ngấu nghiến, nhưng thất vọng. Đây là loại sách chuyên môn, nói sâu về bệnh lý, nên rất khó hiểu. Tôi cố gắng lượm lặt vài biện pháp có thể áp dụng ở nhà, nhưng cũng rất sơ sài. Tôi hỏi bác sĩ San - Chủ nhiệm khoa Tiêu hóa: - Nơi nào chuyên PHCN?

Anh San nói: - Rất tiếc ở ta không có chuyên khoa nào. Ba Lan có một bệnh viện chuyên khoa, rất đông bệnh nhân từ nước ngoài đến chữa, thu được rất nhiều đô la.

Chợt nhớ cô Q đã xoa bóp cho vợ tôi ở bệnh viện, tôi cho mời đến giúp ngoài giờ trong một tháng. Vợ tôi có nhiều tiến bộ, tự ngồi dậy được, tự xoay trở mình, tự xúc 287cơm ăn. Rồi bắt đầu tập đứng, tay vịn đầu giường nhưng chưa đi lại được. Hồi đó chưa có loại xe tập đi, phương pháp phổ biến là làm xà kép, bệnh nhân đặt hai cánh tay lên xà để giữ thăng bằng và tập đi bước một. Nếu có sân thì dễ, chỉ cần chôn chân xà xuống đất là được nhưng trên gác thì lắp xà phức tạp hơn nhiều. Tôi loay hoay nhiều ngày liền mà vẫn chưa biết phải làm thế nào. Vả chăng bệnh nhân tập đi dựa xà cũng phải được theo dõi cẩn thận, bởi tay chân còn yếu, nếu tuột tay hoặc khuyu chân bị ngã thì thành tai nạn.

Trong khi còn lúng túng thì một hôm đi làm về tôi ngạc nhiên thấy Tụy Phương đang dò dẫm từng bước trong hành lang, một tay vịn lan can. Vậy là vợ tôi đã tự mình tìm được cách khắc phục không cần đến xà. Thật đáng khâm phục ý chí và nghị lực của Tụy Phương. Tôi nghĩ vậy, nhưng tự tập đi không có người kèm là nguy hiểm, nhỡ ngã thì hậu quả khó lường. Tôi dặn Tuệ mỗi sáng xếp thì giờ, mỗi buổi độ hai lần chỉ khi nào có Tuệ hay tôi bên cạnh mới để Tụy Phương tập đi. Tụy Phương hằng ngày cố gắng, chăm chỉ luyện tập cho đến khi tự đi lại mà không cần bám tay vào lan can.

Tôi mời một bác sĩ ở Viện Y học Dân tộc đến nhà xoa bóp, bấm huyệt cho vợ trong hai tháng. Thời gian này, tôi có việc phải vào các tỉnh phía Nam. Tôi rất băn khoăn, dù lúc đó Tuệ đã thi xong nên luôn có mặt ở nhà chăm sóc mẹ. Bác sĩ Nguyễn Huy Dung (em chị Nguyễn Thị Quang Thái) - Chủ nhiệm khoa Nội A2 đến thăm. Anh động viên tôi:

288- Anh yên tâm, trong thời gian anh vắng nhà, tôi sẽ thỉnh thoảng đến thăm bệnh cho chị.

Ở Thành phố Hồ Chí Minh, tôi tìm đến một bệnh viện Đông y có khoa PHCN. Ở đây có nhiều máy móc, dụng cụ chuyên môn, các bác sĩ giới thiệu phương pháp điều trị, điều kiện nhập viện, kết quả chữa chạy rất khả quan. Nếu Tụy Phương được điều trị ở đây thì tốt biết bao! Nhưng điều đó xem chừng còn xa vời! Cuối cùng tôi mua hai gậy chống đem ra. Gậy bằng nhôm cứng có thể điều chỉnh cao thấp. Nhưng Tụy Phương thích nhất chiếc gậy dài bằng gỗ xoan do một người cháu ở quê đem ra tặng cô, và sử dụng suốt từ đó như các cụ già ngày xưa chống gậy đi lễ chùa cho tới khi không còn khả năng đi lại nữa vào năm 1998.

Chị Elise biết tin, gửi cho Tụy Phương những bức thư đầy tình cảm sâu đậm, chân thành. Chị còn nói với ông bố, là bác sĩ Fayein có phòng khám riêng ở Paris, gửi sang một hòm các-tông đầy thuốc chuyên dùng và những quả bóng kích cỡ khác nhau từ nhỏ đến to để luyện bàn tay, ngón tay...

Biết bác sĩ Nguyễn Tài Thu nổi tiếng về châm cứu có phòng điều trị tại Viện Y học Dân tộc, tôi đưa vợ sang nhờ giúp đỡ. Buổi đầu, ông đích thân làm, cũng để đào tạo học viên. Những buổi sau, ông để học trò làm dưới sự chỉ dẫn, giám sát của ông. Mỗi buổi châm cứu khoảng một tiếng. Tụy Phương châm cứu một tuần rồi nghỉ. Hai 289ngày đầu tôi đưa đi đưa về, những ngày sau là Tuệ. Kết quả không rõ lắm, có lẽ vì thời gian quá ngắn.

Sau đó một thời gian, khoảng mùa thu năm 1983, tôi lại bắt đầu thuê y tá đến nhà xoa bóp hằng ngày. Đó là cô Lan, vợ của cháu trai chị Hoàng Thị Ái, làm y tá của Phòng Bảo vệ sức khỏe. Chị Ái ở trên gác, Phòng Bảo vệ sức khỏe ở tầng dưới. Phòng đặt ở phố Nguyễn Bỉnh Khiêm gần nhà tôi phố Nguyễn Đình Chiểu. Hết giờ làm việc buổi chiều, cô Lan ghé đến nhà rất thuận tiện không tốn nhiều thì giờ đi lại. Cô Lan nghỉ, Tuệ thay. Có Tuệ ngày ngày lui tới cũng thấy ấm cúng. Từ đó cho đến ngày cuối cùng, ngày nào Tụy Phương cũng được xoa bóp, trừ một số lần gián đoạn một, hai ngày, nhiều nhất là một tuần.

Tụy Phương rất cố gắng, kiên trì, bền bỉ luyện tập hết sức công phu. Tập đi trong hành lang, lúc đầu chống gậy, bước chân ngày càng vững chãi hơn, đến cuối năm 1982 đã có thể đi không cần gậy. Cùng với đó là luyện tay và bàn tay phải là bên liệt. Tập giơ cánh tay phải, tập nắm và duỗi các ngón tay phải, tập gập, uốn cổ tay. Luyện tập cân đối cả hai cánh tay và hai bàn tay.

Tôi ngắm nghía gian phòng, nghĩ mãi, rồi tìm ra cách làm một ròng rọc cố định (poulie fĩxe) bằng vài phụ tùng xe đạp: kiếm hai miếng gỗ làm khung cố định, đục hai lỗ song song, lỗ trên xỏ một trục xe đạp vào, bắt vít hai đầu, lỗ dưới xỏ một trục lắp moay-ơ (moyeu) cũng bắt vít hai đầu. Nối hai đầu trục trên bằng một sợi dây thép để treo lên cái móc có sẵn sát trần nhà (vốn dùng để treo quạt 290trần), ở trục dưới; luồn môt sợi dây dài, vắt hai ba vòng quanh trục moay-ơ, hai đầu dây thả xuống dưới vừa tầm tay, luồn vào mỗi đầu dây một đoạn tre ngắn làm chỗ đặt bàn tay, rồi buộc hai đầu thành vòng để thò bàn tay vào. Tụy Phương ngồi trên ghế, hai bàn tay nắm hai đoạn tre kéo lên kéo xuống. Các ngón tay phải còn yếu nắm không chặt thì lấy mảnh vải buộc bàn tay vào đoạn tre. Tôi đứng đằng sau, đỡ hai cánh tay giơ lên, hạ xuống. Mỗi ngày tập nhẹ hai ba lần, mỗi lần 5-10 phút. Tụy Phương rất thích tập tay kiểu này. Cùng với xoa bóp, cách tập băng ròng rọc với một dụng cụ đơn sơ tự tạo ấy rất có ích để phục hồi và duy trì chức năng tay. Hồi ấy, Tụy Phương đã cho Tuệ đi học trường trung cấp đào tạo cô nuôi trẻ mẫu giáo hai năm, sau đó công tác ở Nhà Trẻ và Mẫu giáo Việt - Bun. Nhà không có khả năng mướn người giúp việc, nên mọi việc tôi tự tay làm. (Sau khi bệnh tái phát cuối năm 1998, người yếu đi nhiều, Tụy Phương không dùng được ròng rọc nữa, dây đã gỡ bỏ, còn con ròng rọc vẫn giữ nguyên trên trần nhà như một kỷ vật).

Đến cuối năm, việc phục hồi chức năng đã có nhiều tiến bộ, tự đi lại trong nhà, vận động cánh tay, bàn tay, ngón tay, tự bảo đảm nhu cầu sinh hoạt hằng ngày. Thật cảm động và đáng cảm phục tinh thần lạc quan yêu đời, luôn đặt niềm tin và hi vọng vào tương lai, luôn quyết tâm gắng gỏi nhích dần từng nấc nhỏ nhọc nhằn trên bước đường phục hồi.

291Tuy vậy, Tụy Phương không làm được những việc nặng nhọc nữa, nhiều chức năng cơ bản của bàn tay như viết, chống gậy, cầm thìa xúc cơm... đều chuyển sang tay trái.

Tụy Phương vẫn nói được như khi còn cấp cứu ở bệnh viện, khi ra viện lại sinh ra nói ngọng, nay đã đỡ hơn nhiều, rõ ràng hơn, nhưng chậm chạp hơn nhiều so với trước kia. Tụy Phương khoe đã có thể cầm được mâm và "biểu diễn": tay trái cầm mép mâm, tay phải "đỡ" mâm bằng bàn tay và cổ tay, chiếc mâm nằm theo chiều ngang rất ngay ngắn, nâng lên, hạ xuống nhiều lần.

Có lần Tụy Phương vào bệnh viện, nằm ở khoa Đông y, vừa để kiểm tra vừa để duy trì và cải thiện, nâng cao sức khỏe. Một buổi sáng, tôi vào thăm, dắt tay vợ đưa đi dạo trong vườn (Từ khi có gậy, ra khỏi nhà thì phải chống gậy, tôi đã dặn vợ như vậy, nhưng sáng nay tôi là cái gậy cho vợ tựa). Vợ tôi khoe làm được động tác "chào mặt trời". Người đứng thẳng, chân doạng, hai tay duỗi thẳng dọc thân từ từ giơ lên cao hơn đầu, Tụy Phương chụm hai bàn tay, rồi hơi cúi xuống "chào mặt trời". Lặp lại động tác vài lần như thế, Tụy Phương có vẻ rất phấn chấn. Có một chị cũng ở Hội Phụ nữ, đã về hưu, rất xởi lởi, gặp tôi cứ đọc lầu lầu các bài thơ Pháp. Có chị VGH được nhiều người biết tiếng từ khi còn nhỏ, ở cùng bố mẹ trong Thanh Hóa thời kháng chiến chống Pháp. Có một chị khác cũng bị tai biến mạch máu não than thở, hỏi ý kiến Tụy Phương: Sau khi chị mắc bệnh, người chồng là bác 292sĩ điều một cô y tá có con nhỏ đến ở một phòng tầng trệt, vốn là ga-ra, lấy cớ anh cần được xoa bóp. Hằng ngày, cô y tá đàng hoàng, công khai lên xoa bóp cho chồng chị ở phòng riêng trên gác. Chị thấy rất chướng mắt, nhưng không dám phản đối. Còn với chị, anh tỏ ra không mấy quan tâm. Chị rất buồn nhưng không biết phải làm gì. Tụy Phương nói: Mình đau yếu, ở thế yếu, anh ấy đối xử với chị như thế là thiếu đạo lý, nhưng cải biến tính nết con người đâu có dễ. Chị thử nhỏ nhẹ nói chuyện, gợi nhớ những kỷ niệm tốt đẹp đã có giữa hai người, may ra anh ấy động lòng chăng. Nếu anh ấy không thay đổi, đành phải chịu đựng thôi, nhưng đừng quá thất vọng, cố gắng xua khỏi đầu những ấm ức, buồn phiền để sống thanh thản, giữ được sức khỏe. Lúc này hơn bao giờ chị cần có nghị lực và đừng mất hi vọng.

Tụy Phương kể lại câu chuyện đó cho tôi nghe với nét mặt buồn.

Một buổi sáng mùa hè năm 1983, chị Elise, mẹ cháu Maya từ Thành phố Hồ Chí Minh gọi điện, báo ba ngày nữa sẽ bay ra Hà Nội thăm Tụy Phương. Tôi vội viết đơn xin phép đón Elise đến thăm, đi nộp cho cơ quan xuất nhập cảnh đóng tại phố Hàng Bài.

Khoảng 9 giờ, Elise sẽ tới nhà. Tụy Phương đợi ở đầu cầu thang, tôi đi sang phòng bên là nơi chúng tôi sẽ tiếp Elise, lúc quay lại thấy Tụy Phương đang bước xuống cầu thang, tôi vội bước xuống theo để đỡ Tụy Phương thì 293Elise cũng đang lên cầu thang. Hai người gặp nhau ở chỗ dừng chân, Elise ôm chầm Tụy Phương hôn thắm thiết. Đây là lần đầu Tụy Phương tự động lên xuống cầu thang. Lên phòng, Elise đưa tặng Tụy Phương một túi thuốc chữa bệnh và thuốc bổ, nhiều nhất là Terneurine viên và ống để tiêm, hồi đó rất hiếm và rất đắt. Chúng tôi trò chuyện rất lâu khoảng hai tiếng. Elise khuyên Tụy Phương nên chuyển sang viết tay trái. khi ra về, Elise đỡ Tụy Phương đi trước, tôi đi đằng sau. Elise lùi lại ngang hàng với tôi, hỏi nhỏ: - Trưa mai, trên đường ra sân bay, tôi muốn lên thăm chị lần nữa, có tiện không?

Sau chốc lát do dự, tôi bảo, có lẽ không nên, chắc chị cũng biết vì sao (Elise đã ở Việt Nam ba năm nên hiểu luật pháp Việt Nam). Sau này tôi ân hận mãi về câu trả lời, tôi thiếu dũng khí đương đầu với những chuyện phi lý. Sau khi về nước, Elise gửi một thư chứa chan tình cảm, có một chi tiết rất cảm động, trên đường ra sân bay, Elise rẽ vào, đến trước cửa nhà tôi, xuống xe, bước lên hè bên kia đường, nhìn lên cửa sổ, đứng chờ lúc lâu, mong được nhìn hình ảnh Tụy Phương lần nữa. Tụy Phương không xuất hiện! Tình cảm Elise làm tôi càng thêm ân hận.

Từ khi Tụy Phương đi lại được, tôi bắt đầu nghĩ đến việc đưa Tụy Phương vào công viên Thống Nhất ngay trước nhà. Nhưng chỉ đến khi Tụy Phương chủ động lên xuống cầu thang tôi mới quyết tâm làm việc này, trong ngày chủ nhật hoặc một ngày được nghỉ nào đó. Từ tầng 294trệt lên nhà tôi, phải qua hai cầu thang, cầu thang ngoài trời dẫn lên tầng hai, cầu thang trong nhà dẫn lên căn hộ tôi ở. Cho nên phải lượng sức Tụy Phương, và đặc biệt cấn trọng khi lên xuống cầu thang, không được sơ suất để xảy ra trượt chân trên các bậc, nếu ngã là thêm một tai họa...

Tôi đỡ Tụy Phương xuống cầu thang. Một tay cầm . gậy, tay kia tôi nắm bàn tay phải của Tụy Phương. Tụy Phương đưa bàn tay trái tựa vào tường, vào lan can cầu thang ngoài trời. Đi chầm chậm, lần từng bước, từng bậc một, khi hai chân đã đứng vững trên bậc mới bước tiếp. Cánh tay phải, gọi là liệt nhưng không hoàn toàn tê liệt, vẫn cử động được, tuy vậy không còn đủ phản xạ tự nhiên vung vẩy theo nhịp bước để giữ thăng bằng khi chuyển động. Vì vậy, khi đi vào vườn hoa, Tụy Phương cắp chiếc gậy vào nách, hoặc đưa gậy cho tôi cầm và giơ tay cho tôi nắm cùng đi bên cạnh.

Có thể vào vườn hoa từ cổng trước - phố Trần Nhân Tông - hoặc cổng sau - phố Nguyễn Đình Chiểu. Tụy Phương thích vào vườn hoa từ cổng sau vì gần nơi Tụy Phương chọn để luyện tập. Đây là một khoảnh đất rộng, quây bằng một hàng rào sắt thấp chỉ cao tới ngang bụng, tạo thành một vòng tròn, chu vi ước 120 - 150 mét. Tụy Phương bỏ gậy, tay trái tựa hàng rào đi vòng quanh, đi vài vòng, mệt thì nghỉ chốc lát, rồi tiếp tục đi. Độ dài đi bộ tăng dần, có lần đi tới sáu, bảy vòng, gần một cây số. Tụy Phương rất chăm chỉ. Tôi luôn ở cạnh Tụy Phương 295ngẫu nhiên bị lôi cuốn vào bài thể dục đi bộ. Thế là mỗi khi vào công viên, tôi và Tụy Phương cùng tập. Sức khỏe Tụy Phương ngày càng tốt hơn, thể lực của tôi cũng được tăng cường. Tụy Phương vui vẻ, phấn khởi, tươi tỉnh hẳn lên. Hình ảnh thời thanh niên hiển hiện rõ mồn một, đôi mắt sáng long lanh với nụ cười thoáng trên môi. Ai không để ý thì khó thấy Tụy Phương đã bị tai biến mạch máu não, trừ chiếc gậy luôn theo người.

Thấy thể trạng đã khá tốt, tôi thỉnh thoảng dẫn Tụy Phương đi dạo mấy phố quanh đây, để Tụy Phương được hòa mình vào khung cảnh sinh hoạt của xã hội.

Mỗi khi Tụy Phương ra khỏi nhà, đi bệnh viện khám, chữa bệnh, đi thăm bạn bè, dự một cuộc họp... tôi hoặc Tuệ tháp tùng.

Hai đầu cầu thang lên và xuống đều có chỗ dừng, riêng cầu thang trong nhà ngắt làm hai quãng, ở giữa có chỗ dừng, đến mỗi chỗ dừng thì nghỉ, lấy lại sức. Bước xuống hè, trước khi qua đường, thì quan sát các luồng xe xuôi ngược, chầm chậm bước qua đường, không vội vàng hấp tấp, rồi bước lên hè bên kia. Từ đây thủng thẳng tiến tới cổng trước, đường Trần Nhân Tông, hoặc cổng sau, phố Nguyễn Đình Chiểu để vào vườn hoa. Đi trên hè và trong vườn, tôi đều đi bên cạnh, không bao giờ để Tụy Phương đi một mình. "Canh giữ" cẩn trọng như thế, nên trong 16-17 năm, không xảy ra một tai nạn dù nhỏ nhất. Tôi nhớ lần đến phố Đặng Thái Thân thăm chị Phương Diệm, người đồng hương tỉnh Hải Dương, người 296bạn rất thân từ những ngày Cách mạng Tháng Tám. Chúng tôi đi xe xích lô. Chị Phương Diệm, được báo trước, đứng đợi trên hè trước cánh cổng sắt mở rộng. Ông đạp xích lô rất có ý tứ, đưa xe vào sát hè, ghếch mũi xe lên via hè, để Tụy Phương xuống xe cho dễ.

Nhà chị Phương Diệm là kiểu nhà riêng hai tầng, nhỏ, cổ xưa, có lẽ ra đời cùng thời Bệnh viện Lanessan (nay là Bệnh viện Quân y 108). Tầng trệt, hồi xưa chắc để bồi bếp ở, cầu thang ngoài trời lên gác rất khó đi. Tôi nói, nhà tôi rất khó trèo cầu thang, có lẽ hai chị nói chuyện ở đây tốt hơn. Chị Phương Diệm cũng có ý ấy. Vậy là, người ngồi trên xe, người đứng trên hè cứ thế nói chuyện với nhau hồi lâu. Phố vắng, chỗ này là ngõ cụt, hầu như không có người qua lại, nên hai chị trò chuyện thoải mái. Đây là lần cuối cùng Tụy Phương đến thăm chị Phương Diệm ở... vỉa hè.

Đây là một thử nghiệm mới và một tiến bộ mới của Tụy Phương. Tụy Phương có thể lên, xuống, ngồi xích lô không khó khăn lắm, miễn là có người giúp đỡ cẩn thận, là người nhà và chính ông đạp xe. Ông xích lô đẩy xe đến sát hè, nâng đầu xe ghếch lên vỉa hè, Tụy Phương đến sát xe, tay trái nắm thành xe, ông xích lô cầm giúp cây gậy, đỡ Tụy Phương chân trước, chân sau bước lên sàn xe và ngồi sát vào lưng xe, rồi đặt gậy bên cạnh. Xuống xe, thì làm những động tác trên theo trình tự ngược lại. Tuy vậy, tôi không bao giờ dám để Tụy Phương đi xích lô một mình.

297Chăm sóc ăn uống sao cho đủ dinh dưỡng. Ưu tiên dành cho Tụy Phương. Tăng chất đạm, rau, quả và sữa. Thuốc, ngoài thuốc bệnh viện, Elise gửi từ Pháp, từ Mỹ (khi theo chồng sang Mỹ làm việc tại cơ quan UNICEF) thuốc chữa bệnh, thuốc bổ, phần nhiều là Terneurine ống để tiêm, không có trong hòm thuốc bác sĩ Fayein (bố của Elise, gửi biếu trước đó), loại thuốc rất được ưa chuộng, khá đắt.

Chăm sóc giấc ngủ. Người có bệnh huyết áp cao mất ngủ một đêm là đã nguy hiểm, với Tụy Phương bây giờ lại càng phải tránh.

Bây giờ, khi nằm viện, Tụy Phương đã có thể tập đạp xe đạp ở phòng Vật lý trị liệu. Vấn đề đặc biệt quan trọng là, từ nay về sau phải tạo một khung cảnh sống, một không khí gia đình ấm áp tình cảm vợ chồng, con cái, họ hàng, bạn bè, để Tụy Phương sống thanh thản, vui vẻ, sống lạc quan, yêu đời như từ trước tới nay vẫn thế, không để Tụy Phương phải lo nghĩ bất cứ điều gì, không bực tức, không buồn phiền, cũng không vui mừng quá mức.

Đầu tiên là "phong tỏa" những tin tức có thể gây xúc động mạnh, những điều bất hạnh, những chuyện đau buồn trong gia đình.

Chuyện thứ nhất:

Tụy Phương có một người em gái - cô Lê Thị Gia Tĩnh - chồng bị bệnh lao rất nặng, nằm viện điều trị chục 298năm liền, cũng chừng ấy năm cô ở bệnh viện, làm "hộ lý" chăm sóc cho đến khi chồng mất. Sau khi chồng qua đời, mình cô bươn chải, chật vật lo cuộc sống. Cô đi bước nữa với một cán bộ miền Nam tập kết. Sau ngày giải phóng miền Nam, cô theo chồng vào quê, tỉnh Mỹ Tho, và sinh một người con trai. Người chồng sau qua đời, cô sống với con gái đã ly dị, cuộc sống càng khó khăn hơn. Tôi nói cho Tụy Phương biết tin về cô Tĩnh khi vào miền Nam, nhưng không tô đậm những khó khăn. Hằng năm tôi đều đặn gửi tiền trợ cấp, Tụy Phương rất tán thành.

Cách đây vài năm, cô ấy từ trần trong tình cảnh rất thương tâm. Bệnh tật và quẫn bách. Tôi thông báo cho anh chị em ở miền Bắc, gom góp tiền phúng viếng gửi vào cho Hoài Niệm (con trai cả) ở Thành phố Hồ Chí Minh. Hoài Niệm cũng gom góp tiền phúng viếng, thay mặt gia đình đến phúng viếng và dự lễ tang chu đáo. Từ miền Nam, tôi nhận được thư và ảnh đám tang. Tôi giấu kín không cho Tụy Phương biết chuyện này.

Chuyện thứ hai:

Cô Lan, vợ chú Long; cô Quy, vợ chú Khánh, lần lượt qua đời, tôi và hai chú đều nhất trí giấu tin. Đôi lúc, tôi cũng áy náy đã không cho Tụy Phương biết sự thật về mấy người em, nhưng đành phải vậy, việc làm ấy cần thiết cho Tụy Phương. Mặc dù vậy, lúc này, tôi vẫn thấy rất đau xót.

Trong năm người em, chỉ có hai người Tụy Phương biết rõ số phận và hoàn cảnh gia đình. Đó là em trai đầu 299- Lê Tất Thành - Thành là học sinh cũ trường trung học tư thục Thăng Long phố Ngõ Trạm, tham gia Đội tự vệ thành Hoàng Diệu trước khi bùng nổ kháng chiến chống Pháp. Trong kháng chiến, Thành là cán bộ Mặt trận Liên Việt ở Kiến An. Sau kháng chiến chống Pháp và trong kháng chiến chống Mỹ, Thành là Bí thư Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc và từ năm 1972 là Phó Chủ nhiệm thứ nhất Ủy ban Kế hoạch thành phố Hải Phòng. Năm 1974, trong quá trình chuẩn bị thành lập Viện Phân vùng Quy hoạch Trung ương (Ủy ban Kế hoạch Nhà nước) - nay là Viện Chiến lược Phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) mà tôi sẽ là Viện trưởng, tôi đề nghị và được Ban Tổ chức Trung ương chấp thuận điều Thành lên làm Viện phó. Thủ tục chưa xong, thì mùa hè năm 1974, Thành bất ngờ tử vong do tai nạn ô tô tại Mỹ Hào (tỉnh Hưng Yên) trên đường 5, khi lên Hà Nội làm việc với Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Đây là nỗi đau buồn vô cùng to lớn, đột ngột đối với Tụy Phương và cả gia đình. Anh chị em thống nhất chưa báo tin cho cho bà mẹ của Tụy Phương - cụ Nguyễn Thị Châm - đang dưỡng bệnh tai biến mạch máu não, để tránh gây sốc cho cụ.

Người thứ hai mà Tụy Phương được biết rõ những thăng trầm cuộc đời là em gái út - cô Lê Thị Phi Nga. Cô Nga tốt nghiệp Đại học Y, tình duyên lận đận. Lập gia 300Hồ Chí Minh sinh sống, trở thành giáo sư Trường Đại học Y Thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc hôn nhân lần thứ hai cũng không hoàn toàn xuôi chèo mát mái, người chồng cả ghen, gia trưởng,... Tháng 12/1994 đến tháng 3/1995, thời gian tôi và Tụy Phương cùng một cô con nuôi vào Thành phố Hồ Chí Minh ở với vợ chồng Hoài Niệm, cô đến thăm Tụy Phương vài lần. Từ đó về sau, có tin gì về Nga, tôi cũng báo lại cho Tụy Phương. Ngày 28/5/2007, nghe tin Tụy Phương mất, Nga mua vé định bay ra Hà Nội dự tang, khi đến sân bay bị một cơn huyết áp cao, cô đành quay về nhà.

đình với một bác sĩ, sinh hai con, rồi cô li dị người chồng hư hỏng. Cô tái giá với một cán bộ thương nghiệp. Sau khi miền Nam giải phóng, cô theo chồng vào Thành phố

Vấn đề cơ bản là chăm sóc đời sống tinh thần và đời sống xã hội.

Trong thời gian cấp cứu, mỗi khi tỉnh Tụy Phương tỏ ra vẫn giữ được trí nhớ tốt, đầu óc minh mẫn. Đây là một điều rất may mắn. Cần duy trì, nuôi dưỡng khả năng nhận thức, cảm xúc và tạo môi trường, điều kiện tiếp tục hòà mình với xã hội - điều này rất quan trọng.

Trước đây, khi còn hoạt động, Tụy Phương với quần chúng như cá với nước, lăn lộn trong quần chúng, hòa mình với quần chúng thuộc mọi tầng lớp, nghề nghiệp, trình độ học vấn... Tôi yêu cầu các con, cháu năng đến thăm hỏi, thông tin để họ hàng, bạn bè, học sinh cũ, tùy điều kiện đến thăm, gặp gỡ, chuyện trò. Nhiều học sinh cũ, đi riêng hoặc đi thành nhóm đến chúc mừng nhân ngày 8/3, ngày sinh nhật, ngày lễ, tết... Có người sinh 301sống, công tác ở Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi khi ra thủ đô cũng ghé thăm.

Tụy Phương luôn mong muốn được giao tiếp. Khi có khách, Tụy Phương hoan hỉ giơ bàn tay trái ra bắt tay khi khách đến cũng như khi ra về. Khi khách chào định ra về mà không để ý bắt tay Tụy Phương, tôi nhắc khách nắm bàn tay Tụy Phương đã giơ sẵn. Phong cách ấy được duy trì từ khi phục hồi cho đến đến sau này, kể cả khi Tụy Phương đã bị liệt nằm bất động. Chỉ vài tháng cuối cùng, Tụy Phương yếu nhiều, cánh tay không giơ cao được nữa, chỉ giơ được nửa chừng thì tôi nâng giúp. Kể cả những lúc ấy, tôi thử đặt bàn tay tôi vào bàn tay Tụy Phương, Tụy Phương vẫn nắm rất chặt. Tôi rất mừng, tin Tụy Phương còn sống lâu.

Những lần thăm hỏi, những cuộc trò chuyện (khi Tụy Phương chưa mất tiếng nói), những bàn tay nắm chặt là những lúc ấm áp tình người, những liều thuốc an ủi, động viên, tiếp thêm sức mạnh và nghị lực để Tụy Phương chiến đấu cho cuộc sống. Nắm chặt bàn tay khách là sự hân hoan chào đón, đưa tiễn cũng là sự trân trọng và cảm ơn những tấm lòng chia sẻ.

Tụy Phương thỉnh thoảng viết thư thăm hỏi người thân, bạn bè, cũng rất ham đọc thư và viết thư trả lời. Mỗi bức thư là cả một sự nhẫn nại nhọc nhằn, cả một 302buổi sáng chỉ viết nổi một trang giấy. Chỉ thư gửi chị Hoàng Thị Ái (năm 1984) kể chuyện trại Khe Khao là chữ viết ngay ngắn thẳng hàng, còn những thư khác chữ to tướng, quều quào như "gà bới", dòng chữ lệch dần xuống dưới thành những dòng chéo. Tụy Phương rất kiên trì, có thư dài chục trang, như thư gửi anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp), Tụy Phương cạy cục ngày này qua ngày khác, không biết bao nhiêu ngày mới viết xong, nội dung thăm hỏi gia đình, kể chuyện công tác và nêu những kiến nghị tâm huyết về chăm sóc trẻ em, về tác dụng to lớn của việc tuyên truyền miệng gương người tốt, việc tốt, về việc nên sử dụng rộng rãi cán bộ nghỉ hưu vào việc này... Thư cuối cùng gửi vào miền Nam cho "chị Nguyễn

", cuối năm 1998

Thị Vân (vợ anh Vũ Tuân(") và các bạn"

(trước khi tai biến lần thứ hai), chỉ có hai trang, phải để hai buổi sáng mới viết xong (Sau này, chị Vân kể: "Em gửi các chị chuyền tay nhau đọc, chúng em rất cảm động trước tình cảm của chị Tụy Phương").

Những lá thư là những cánh chim, những ngọn gió đem tâm tư, tình cảm của Tụy Phương đến với những người thân, bạn bè tri âm, những người Tụy Phương có nặng ân tình.

Trong số bạn bè, chị Elise Spivac, mẹ cháu Maya (người Pháp), học sinh cũ của Tụy Phương, là người trao đổi thư từ nhiều và đều nhất. Tụy Phương tự đọc thư 303gửi tới và tự viết thư trả lời. Tôi đọc tất cả những thư đó, chuyển và nhận thư bằng máy fax. Nhiều khi, để Tụy Phương đỡ vất vả, tôi ghi ý kiến của Tụy Phương và viết thay. Năm 1996, Elise mời tôi sang thăm Pháp, sẵn sàng làm mọi thủ tục cần thiết và chịu mọi phí tổn. Chị nhiều lần nhắc lại lời đề nghị. Tôi đã đi nhiều nước, đều là công tác hoặc dự hội nghị quốc tế, có thời kỳ năm nào cũng đi, hầu hết là các nước xã hội chủ nghĩa và 5 nước tư bản (4 nước Bắc Âu, Nhật Bản) nhưng chưa đến Pháp nên tôi rất háo hức trước lời mời của Elise, vì tôi cũng như Tụy Phương đều được đào tạo trong hai nền văn hóa Việt Nam và Pháp (chưa kể ảnh hưởng gián tiếp của văn hóa Trung Hoa qua tác phẩm văn học cổ điển và vài tác phẩm đương đại). Tôi trù tính tự lo liệu vé máy bay, chỉ nhờ chị đảm đương tổ chức việc ăn ở, hướng dẫn tham quan tại chỗ. Mỗi lần nhận được đề nghị của Elise, tôi hỏi ý kiến Tụy Phương, vợ tôi đều lắc đầu, chỉ lắc đầu chứ không nói (thời kỳ này, vợ tôi vẫn nói bình thường), có nghĩa là dứt khoát không đồng ý.

() Vũ Tuân, nguyên Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ (nay là Bộ Công Thương).

Một đêm cuối năm 1997, khi chúng tôi đã đi nghỉ thì có tín hiệu fax. Tôi dậy, nhận được một bức thư dài đầy tình nghĩa nhắc lại lời mời. Tôi đưa thư cho vợ, bật đèn cho vợ đọc. Đọc xong, Tụy Phương trầm ngâm rồi bảo:

- Thôi, anh chuẩn bị đi một chuyến, anh trả lời Elise. Năm 1998 là "năm hạn" của hai vợ chồng tôi. Đầu năm, tôi mắc một bệnh quái ác, bệnh "tan hồng cầu" tưởng chỉ sống được vài tuần, cuối năm vợ tôi bị tai biến 304lần thứ hai. Khi tôi nằm viện, Elise liên tiếp gửi thư, hỏi cần gì chị sẽ cố gắng đáp ứng. Tôi viết lần lượt ba thư, giao con cái đem về nhà cho vợ "duyệt" rồi fax đi. Tụy Phương chỉ cho gửi hai thư.

Từ sau vụ tai biến thứ hai khiến vợ tôi mất tiếng, không tự ngồi dậy, không đứng, không đi, không tự xúc cơm, không viết được, tôi mới thay vợ trao đổi thư từ với Elise. Thư đến, tôi đọc rồi đưa vợ đọc, hoặc đọc cho vợ nghe. Thư đi do tôi viết thay, vợ tôi cũng đọc hoặc nghe tôi đọc trước khi gửi, điều gì không đồng ý thì ra hiệu bằng tay hoặc mắt là chính. Vì thế cứ đọc một hai câu, tôi lại dừng, nhìn ánh mắt vợ để dò ý tứ. Nghe thì có vẻ rườm rà, thật ra cũng không phức tạp gì, không tốn mấy chút thì giờ, vì thư chỉ đưa vài thông tin, vài điều cần thiết nhất nên ngắn gọn và ít khi phải sửa. Về sau có lẽ vì mệt mỏi nên Tụy Phương để tôi hoàn toàn tự do.

Tôi kể mấy chuyện nhỏ trên, là vì đọc và viết là một thử thách, thử nghiệm thuyết phục nhất về trình độ cảm nhận, tư duy, sự minh mẫn của vợ tôi. Tụy Phương kể, bác sĩ cho biết chỉ trung khu vận động bị tổn thương, còn trí não không bị ảnh hưởng gì. Phần còn lại là nhờ môi trường thuận lợi, sự chăm sóc của gia đình và sự nỗ lực phấn đấu của Tụy Phương.

Vào những tháng cuối năm 1982 và đầu năm 1983, tôi có niềm vui lớn trước sự phục hồi nhanh chóng của vợ - ấy là tôi nghĩ thế - phục hồi cả về thể chất và tinh thần. Nhưng liền sau đó là những day dứt, bồn chồn lặp đi lặp 305lại không thể nào nguôi. Đây là sự phục hồi của người bị tai biến mạch máu não, nghĩa là không và không thể trở lại toàn vẹn như một người bình thường, vẫn bị di chứng liệt nửa người hành hạ ở mức độ đáng kể, thể chất và sự vận động không mạnh mẽ, vững vàng như trước.

Tôi rất mừng là trí nhớ, trí tuệ của Tụy Phương gần như không bị tổn thương. Đó là nói mặt "tĩnh", còn về mặt "động" thì về lâu dài, sinh hoạt tinh thần, sự vận động, phát triển của tư duy cũng bị ảnh hưởng không hề nhỏ. Do đọc ít, giảm tiếp xúc xã hội, không đi rộng, gặp nhiều nên phạm vi thông tin bị thu hẹp, lượng thông tin ít, ít cơ hội đối mặt những thách thức đặt ra cho đất nước, những thăng trầm của cuộc đời, ít đòi hỏi phải suy nghĩ..., năng lực của trí não sẽ giảm dần là điều không tránh khỏi. Nguyên nhân, phần là hệ lụy của bệnh, phần vì gia đình chủ tâm thực hiện những hạn chế cần thiết, nhằm mục đích duy trì sức khỏe, phòng ngừa biến chứng. Ngẫm lại, cuộc sống của Tụy Phương, cho dù thanh thản, là cuộc sống bị cắt xén, đó là một thực tế phũ phàng. Cho nên, vui thì lẫn buồn, lo. Vui vậy... mà lòng bao nỗi xót xa.

1998 - NĂM GIA ĐÌNH GẶP NẠN

Năm 1998 trong gia đình tôi đã xảy ra hai tai nạn hoàn toàn bất ngờ, người ta gọi là năm "hạn". Đầu năm là với tôi, cuối năm là với Tụy Phương.

306Thứ bảy, ngày thứ nhất ở bệnh viện (tức ngày 3/1/1998) ứng với mồng 5 tháng Chạp Đinh Sửu. Tôi đi viếng anh Nhân (Cảnh) tại nhà riêng ở bãi Phúc Xá. Tôi là người đến sớm nhất. Anh Nhân vốn công tác tại Ban Kiểm tra 12 (BKT 12, bí danh của Văn phòng Chính phủ và Phủ Thủ tướng), là người được giao trách nhiệm đưa một số cháu nhỏ, là con cán bộ cơ quan, sang học dài hạn ở trường nội trú Quế Lâm, Trung Quốc. Con trai tôi, Nguyễn Hoài Niệm, được đi trong chuyến này (Anh Đinh Đăng Định và anh Nam - tức Kim Côn, "chánh, phó nhòm" ghi được một bộ ảnh về các cháu lúc lên đường, hiện để ở bảo tàng).

Khi tôi đến nơi thì gia đình đã nhập quan, quan tài đóng kín đặt giữa nhà. Anh em BKT 12 lục tục kéo đến. Té ra, đây không phải là một cuộc viếng thông thường mà là giúp tổ chức đám tang, như kỳ vọng của gia đình. Thế là anh em phân công nhau, người viết điếu văn, người sửa soạn nhà cửa để chuẩn bị đón khách đến viếng, người soạn kịch bản các bước tiến hành tang lễ...

Khoảng 9 giờ, khách bắt đầu đến viếng, anh em lại cắt cử người trông nom trật tự... Xem chừng tang lễ còn kéo dài đến trưa và chiều, nên đến khoảng 10 giờ anh Lê Kim Chung và tôi vào viếng anh Nhân xong, liền xin phép về trước.

307Anh Chung đèo tôi về bằng xe máy đến bờ hồ Thiền Quang thì tôi xuống đi bộ về nhà. Gió hồ thổi mạnh, thấy mát nhiều hơn là lạnh, rất dễ chịu. Đến trưa hơi mệt, tôi bỏ ăn, chỉ uống sữa, rồi ngủ li bì. Cuối buổi chiều, thấy mệt mỏi mỗi lúc một tăng, tôi bỏ ăn. 22 giờ, tôi lên cơn sốt rét, người run bần bật, 39 độ 7. Huyền - con gái nuôi - hoảng hốt gọi điện cho Phòng Bảo vệ sức khỏe của Bệnh viện Việt - Xô. Một bác sĩ trẻ sang cùng một nữ y tá. Đây là bác sĩ tôi gặp lần đầu, anh đến thay bác sĩ chuyên theo dõi sức khỏe của tôi, hôm đó vắng mặt. Sau khi khám bệnh, anh cho biết: Huyết áp 150/90, và nói: - Không có gì nghiêm trọng, bác chỉ cần uống vài viên thuốc giảm huyết áp là khỏi thôi.

Tôi thấy sắp ngất xỉu và buồn nôn, vội bảo Huyền: gọi 115 cho xe đến ngay. Thế là tôi hoàn toàn mất ý thức, không biết gì nữa. Sau này, Hạnh kể lại: có bao nhiêu chăn bông, đắp hết lên người bố, rồi bế bố xuống hè, đưa vào xe. Chị Tuệ, anh Tình cũng theo vào bệnh viện.

Ngày thứ hai ở bệnh viện. Chủ nhật 4/1/1998, tức mồng 6 tháng Chạp Đinh Sửu. Tôi mở mắt khi trời còn tối mịt, có lẽ khoảng 4 giờ sáng. Tôi ngờ ngợ đang nằm trong một phòng bệnh viện, cửa đóng kín. Lúc ấy tôi thèm đến nôn nao được thấy mặt người thân. Ngày thường, tôi rèn luyện nhằm hướng tới một cá tính mạnh mẽ, quyết không lung lay, yếu mềm, sợ hãi, xúc động, 308chờ đợi sự an ủi hay động viên của bất kỳ ai, trong bất cứ trường hợp éo le nào. Thế mới là khí phách "anh hùng hào kiệt"! Và chính lúc này tôi nhận ra, đó thật là một ý nghĩ ngây thơ, sai lầm đến ngớ ngẩn, phi tính người, tình người. Tình nhân ái, cho và nhận, là bản chất tốt đẹp nhất, bản chất cốt lõi của con người... Nhưng chỉ sau chốc lát tôi lại rơi vào cõi mê.

Tôi nằm trên một con thuyền đang xuôi dòng không biết tới bến bờ nào. Bố tôi xuất hiện, nói với tôi:

- Duyên số của con đã đủ dài để con chiêm nghiệm bể dâu trần thế, không có gì phải ân hận hay nuối tiếc. Sống gửi, thác về. Bố về đón con đi.

Tôi trả lời:

- Con cảm ơn bố, con lúc nào cũng sẵn sàng đi. Nhưng lúc này thì không thể. Con không thể để vợ con đang bệnh nặng ở lại một mình không người chăm sóc. Đó là món nợ ân tình sâu hơn biển cả, cao hơn trời rộng. Con ra đi lúc này thì vợ con sẽ chết vì đau buồn, con đành lòng sao được. Khi nào số mệnh đón vợ con đi, con sẽ theo vợ con về với bố mẹ, tổ tiên...

Lúc này, tôi đã tỉnh. Tôi đảo mắt nhìn quanh. Diệu Anh đứng ở cuối giường tiến đến gần, nắm bàn tay tôi:

- Cháu Thạch cũng ở đây. Con và cháu trực bố suốt đêm qua.

309- Cảm ơn con và cháu Thạch!

Lúc đó trong tôi dội lên một niềm vui và xúc động tột độ. Tôi đã trở về với tình cảm bình thường của một con người bình thường, như mọi con người!

Một lát sau, chị Tân - Phó Chủ nhiệm Nhà Nội A tới. Đêm qua chị trực bệnh viện nên biết tôi vào cấp cứu: - Rất mừng bác đã tỉnh, tốt rồi. Đợi chụp phổi xong, sẽ đón bác về Nhà A.

Sau khi chụp phổi, không có dấu hiệu viêm nhiễm, tôi được đưa về Nhà Nội A, tầng 2, phòng số 7, giường 23, ngay cạnh phòng trực của Ban Chủ nhiệm khoa. Cả ngày hôm đó yên ổn không sốt, phổi không bị tổn thương, dường như sức khỏe của tôi đã trở lại bình thường.

Ngày thứ ba ở bệnh viện (tức thứ hai 5/1/1998). Ban ngày yên ổn. Đến khoảng 22-23 giờ đêm lại lên cơn sốt, ngoài thì nóng như lửa, nhưng lục phủ ngũ tạng như bị ướp đá, người run bần bật không sao cưỡng lại được. Chẳng lẽ cơn sốt rét rừng trở lại? Cấp cứu tại giường. Cơn sốt chỉ kéo dài khoảng một tiếng rồi đột nhiên chấm dứt, như một trận đột kích trong chiến tranh du kích! Sau đó thì người mệt lử, nhưng tinh thần vẫn rất tỉnh táo.

Ngày thứ tư ở bệnh viện (thứ ba 6/1/1998) yên ổn. Tôi gợi ý với khoa xem có phải là sốt rét rừng tái 310phát không. Khả năng này bị loại trừ. Lại một loạt xét nghiệm, lấy máu phân tích, phân tích cả nước tiểu đêm và ngày. Bác sĩ Phạm Song, mới từ nhiệm Giám đốc bệnh viện, viết thư cho Ban Chủ nhiệm Nhà A: "Chẩn đoán và hướng điều trị là đúng. Khi truyền máu thì phải là máu tươi". Bác sĩ Trí - một bác trẻ chuyên khoa huyết học, đến chích tủy xương. Lúc rảnh rỗi, anh đến chuyện trò với tôi. Anh đã được tu dưỡng chuyên môn một năm ở Nhật Bản. Anh người Quảng Bình, cùng quê với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Anh kể, bố anh bỏ tất cả nhà cửa ruộng vườn đi tham gia chiến đấu chống Pháp, khi về không có gì ngoài chiếc ba lô đeo trên lưng, song rất tự hào.

- Gia đình tôi cũng vậy, tôi nói. Cuộc kháng chiến của ta là toàn dân chung lưng đấu cật, đoàn kết một lòng, không nề gian khổ, hi sinh, chiến đấu kiên cường cho đến khi giành chiến thắng. Đó là điều vĩ đại nhất và là bí quyết của chiến thắng.

Ngày thứ năm ở bệnh viện (tức thứ tư, 7/1/1998). Ban ngày yên ổn. Tôi bắt đầu được truyền máu. Chiều xảy ra một điều lạ. Con cái từ mọi nơi ùn ùn kéo nhau về thăm bố. Hoài Niệm từ Thành phố Hồ Chí Minh ra. Việt Triều từ Ba Lan về, Chi Lăng cũng theo mẹ cùng về để "gặp mặt ông lần cuối", cháu bảo thế. Xuân Như từ Mỹ liên tiếp gọi điện thoại về, mếu máo nghẹn ngào vừa 311nói vừa khóc. Diệu Anh và Xuân Nguyên ở Hà Nội cũng kéo đến, cùng nhau tụ tập ở hành lang bệnh viện. Không hiểu đã xảy ra chuyện gì khiến con cái có vẻ lo lắng hốt hoảng. Tôi thì vẫn bình tĩnh. Ngoài sự hành hạ khủng khiếp của cơn sốt rét chợt đến chợt đi, chỉ trong chớp nhoáng khoảng một tiếng, và hiện tượng kém ăn, tôi cảm thấy mọi việc hầu như trở về bình thường, không có gì thật sự đáng lo ngại.

Tôi bắt đầu đọc lại một số tác phẩm của Albert Camus, dự định viết một bài nghiên cứu để gửi cho Chi Lăng, đó là đề tài cháu đã chọn để thi tốt nghiệp. Có một điều mà 4-5 năm sau tôi mới biết: Ban chủ nhiệm triệu tập hội chẩn toàn khoa, kết luận tôi bị một bệnh xuất huyết ít gặp. Sốt cách nhật về ban đêm, hồng cầu "tan", lượng hồng cầu sụt giảm nhanh, liên tục. Từ 4,2 triệu hồng cầu tụt xuống 2,6 triệu, dù đã truyền máu. Tôi chỉ sống được vài tuần! Tin này được giữ kín như bưng. Diệu Anh biết là nhờ một nguồn nội bộ. Chắc do Diệu Anh thông báo nên con cái mới náo động như thế.

Cả ngày yên ổn. Buổi sáng, truyền bịch máu thứ hai. Đến đêm lại một cơn sốt, lần này còn kinh khủng hơn lần trước. Lần trước chỉ hai bàn chân và bắp chân bị co rút, lần này thì co rút từ chân đến thắt lưng, cực kỳ đau buốt, nhức nhối, hễ chạm tay vào lại càng đau. Y tá định xoa bóp cũng không dám đụng vào. Rốt cuộc bác sĩ, y tá cấp 312cứu cũng đành bất lực. Chỉ còn cách cho thở ôxy và tiêm thuốc gì đó. Thế rồi, một tiếng sau, như có phép thần, cuộc hành xác đột ngột chấm dứt. Tôi vẫn rất tỉnh táo từ đầu đến cuối, nhưng lúc này rất mệt, cảm thấy có gì đó khang khác trong người như một sự tuột dốc. Đã 23 giờ, ánh sáng bờn bợt hắt từ một bóng đèn nhỏ sát trần. Các bệnh nhân đã ngủ yên.

Các con tôi vẫn túc trực ở hành lang. Tôi nhờ cô y tá trực đêm gọi Xuân Nguyên vào. Đã đến lúc phải để lại vài lời trăng trối. Xuân Nguyên đặt ghế ngồi gần đầu giường. Tôi nằm trên giường khẽ đọc cho con ghi chép... Phần đầu là gửi Tụy Phương. Nội sự tôi ra đi lúc này (nếu sự thật diễn ra như thế) đã đủ để Tụy Phương đau đớn đến tột cùng rồi. Phải hết sức tránh những câu chữ bi lụy để khỏi khoét sâu thêm vào vết thương. Hơn nữa, Tụy Phương cần phải mạnh mẽ, phải sống vì con, cháu. Tụy Phương sống thêm một ngày là một ngày hạnh phúc của con, cháu, đó là điều chúng mong mỏi. Cho nên, sau khi cân nhắc kỹ, tôi chỉ viết vài dòng tâm huyết với lời lẽ trang nghiêm:

"... Nếu tôi không vượt qua được thử thách này, thì tôi vô cùng ân hận không giữ được lời từng ước hẹn với bà (là sẽ chăm sóc bà cho đến khi bà từ giã cõi trần), đành tạ lỗi với bà và gửi lại bà vô vàn tình yêu thương"(1).

(*) Xem toàn văn bài Suy tư ở bệnh viện và đôi điều dặn lại.

313Hồng cầu tiếp tục giảm. Tôi hỏi anh Trí, có gì nguy hiểm không?

- Nếu hồng cầu của bác xuống đến 2,5 triệu thì ranh giới giữa sống và chết rất mong manh, bệnh viện không thể bảo đảm điều gì.

Bệnh viện bắt đầu thay đổi cách truyền, từ máu khô chuyển sang máu tươi. Nhờ thế, sự sụt giảm hồng cầu dừng lại, triển vọng sáng sủa dần. Tôi vẫn rất tỉnh táo, nhưng cảm thấy mệt mỏi, yếu đi nhiều.

Vấn đề điều trị phải tiếp tục - Giáo sư bác sĩ Phạm Gia Cương - Chủ nhiệm khoa nói với tôi - nhưng thuốc đã hết tác dụng. Tất cả bây giờ phụ thuộc vào bác. Bác phải khắc phục cảm giác chán ăn, phải ăn nhiều, ăn đủ số lượng và nhiều chất bổ dưỡng.

Giáo sư Cương gợi ý:

- Bác đã từng có ý định đi Pháp, bây giờ thay đổi mục đích, đáng lẽ đi thăm bạn bè, thì bây giờ bác đi chữa bệnh. Ở Pháp, chỉ 10 ngày là bác khỏi bệnh hoàn toàn. Sau đó, Giáo sư Cương tổ chức một cuộc hội chẩn quy mô lớn mời các nhà huyết học hàng đầu ở Hà Nội trao đổi về trường hợp của tôi, được cho là khá hiếm hoi. Tôi được mời đến trình bày về diễn biến căn bệnh và thể trạng hiện tại.

Cuộc hội chẩn cho rằng phác đồ điều trị là hợp lý. Hội đồng y khoa tán thành ý kiến tôi đi du lịch chữa 314bệnh tại Pháp, nhưng nên lùi lại đến mùa hè. Vì hiện tại thời điểm đó ở Pháp đang là mùa đông, nhiều tuyết, lạnh giá, mà tôi thì mẫn cảm với cái rét có thể xuống 0 độ...

Tôi được truyền máu tất cả 8 lần (2 lần máu khô và 6 lần máu tươi) thì coi như khỏi bệnh, tuy nhiên phải bồi dưỡng tích cực. Tôi ở bệnh viện qua Tết Nguyên đán, đến hết tháng hai dương lịch mới được về nhà. Hồng cầu của tôi lên mức 3,9 triệu. Thế là mỹ mãn rồi.

SUY TƯ Ở BỆNH VIỆN VÀ ĐÔI ĐIỀU DẶN LẠI

Đêm đã về khuya, tôi trăn trở không ngủ được. Sau cơn vật vã, lúc này nghe như trong người khỏe lại nhưng đồng thời có gì đó khác lắm; tinh thần tỉnh táo, minh mẫn. Tôi suy nghĩ miên man. Xưa - Nay - và Mai sau:

1. Dòng đời cuồn cuộn trong dòng xoáy của lịch sử đầy biến cố dữ dội mà hào hùng của đất nước trong suốt 2/3 thế kỷ. Bà và tôi không chỉ là nhân chứng lịch sử, mà đã cùng nhau dấn thân cho sự nghiệp cách mạng và kháng chiến. Với tấm lòng thật trong sáng, với niềm tin sắt đá, với biết bao ước mơ và hoài bão đẹp về tương lai. Cả thế hệ chúng ta là thế hệ đã làm nên Cách mạng Tháng Tám. Thế hệ đã đi đầu làm nên lịch sử trong thời đại Hồ Chí Minh. Đẹp và đáng tự hào lắm.

315Đến nay, bà và tôi, chúng ta đã làm tròn bổn phận của mình, chúng ta đã sống xứng đáng, sống có lý tưởng, có thể ra đi một cách thanh thản. Con cháu chúng ta có thể tự hào chính đáng về bố mẹ, ông bà của mình.

Chúng ta đã cùng ước hẹn sẽ sống đến những năm đầu thế kỷ 21, cùng nhau chứng kiến những giây phút toàn nhân loại chào từ biệt thế kỷ 20, một thế kỷ của chiến tranh, đầy đau thương tang tóc, cũng là thế kỷ sáng tạo bao điều kỳ diệu vĩ đại. Những giờ phút hân hoan chào đón thế kỷ 21, một thế kỷ mang tầm vóc vũ trụ, thế kỷ mà loài người đặt những hi vọng lớn lao về hòa bình và một thế giới mới công bằng hơn, hạnh phúc hơn, nhưng cũng là thế kỷ còn nhiều bất trắc và nguy cơ. Tôi cũng đã ước hẹn với bà sẽ tiếp tục cùng nhau đi trọn cuộc đời, sẽ chăm sóc bà cho đến khi bà từ giã cõi trần, coi đó là bổn phận của tôi với bà, là việc quan trọng cuối cùng của tôi trong quãng đời còn lại. Rồi sau đó, tôi sẽ đi theo bà. Nhưng, tuổi "xưa nay hiếm" như ngọn nến bập bùng trước gió và nếu tôi không vượt qua được bước khó khăn này, thì tôi vô cùng ân hận không giữ được lời từng ước hẹn với bà, đành tạ lỗi với bà và gửi lại bà vô vàn tình yêu thương.

Còn nếu qua khỏi, thì đó là di chúc viết sẵn, một sự chuẩn bị cho cuộc du hành tới cõi vô cùng, theo cốt cách và triết lý Á Đông về sự sống và cái chết.

2. Điều chưa làm được, bố nhờ cậy các con. Các con thay bố chăm sóc mẹ sao cho tròn đạo làm con. Gần suốt 316cuộc đời, mẹ đã phấn đấu hết mình cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giành lại độc lập và thống nhất Tổ quốc; đã hết lòng tận tụy vì gia đình; đã giúp đỡ, vun đắp cho sự nghiệp của bố; hết lòng yêu thương, nuôi dạy các con khôn lớn đến trưởng thành. Công ơn giáo dục các con của mẹ lớn hơn bố nhiều lắm. Cả một đời tận tụy, hi sinh, nhân hậu, thủy chung, mẹ là một hình ảnh cao đẹp của phụ nữ Việt Nam.

Nói về cuộc đời và sự nghiệp một người như mẹ một cách nghiêm túc, đầy đủ thật không dễ. Cần phải nghiên cứu, suy ngẫm nhiều với cái tâm trong sáng, sự đồng cảm sâu sắc, cái nhìn khoa học và chân thực về lịch sử. Nếu còn thời gian, bố sẽ cố gắng làm việc này. Bây giờ thì chưa nói được gì nhiều hơn.

Hãy kính trọng mẹ, bảo vệ mẹ. Hãy chăm sóc chu đáo sức khỏe, bệnh tật, ăn uống, nghỉ ngơi... không để mẹ thiếu thốn. Chăm sóc về tinh thần, tình cảm, sao cho mẹ vui, thanh thản, không để mẹ có điều gì phải buồn phiền, lo lắng.

Về tinh thần, các con có trách nhiệm như nhau. Còn về đóng góp vật chất thì nên tùy hoàn cảnh và khả năng thực tế của mỗi người, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Người xưa nói "Trẻ cậy cha, già cậy con" nhưng các con nên hiểu cho bố mẹ. Bố mẹ là những người tự trọng, xưa nay sống tự lập, không ỉ lại, nay phải cậy các con thật bất đắc dĩ, bố không khỏi có lúc áy náy không yên. Rút cuộc, trách nhiệm không lo được vẹn toàn cho gia đình là ở bố. 3173. Nhớ đến công lao của mẹ thì cũng phải nhớ đến công ơn của ông bà ngoại (đặc biệt là bà ngoại), của ông bà nội (đặc biệt là bà nội). Đừng bao giờ quên cội nguồn. Chú ý thăm hỏi bà Xuyến giữ gìn quan hệ thân thiết đằm thắm với các cô, chú. Các cô, chú là em cùng cha khác mẹ của bố. Với họ hàng hai bên nội ngoại, các con cũng nên thỉnh thoảng thăm hỏi vài người bạn thân của bố và mẹ. 4. Các con hãy thương yêu, đùm bọc nhau. Những ngày này, bố yên tâm và cảm thấy rất hạnh phúc có nhiều con, cháu quanh mình. Chỉ thiếu Xuân Như, nó là đứa con có hiếu, rất yêu thương bố mẹ và các anh chị em. Tiếc cho nó phạm sai lầm, dại dột nên gặp lắm thăng trầm. Vừa đáng giận vừa đáng thương, nhưng xét cho cùng, đáng thương hơn đáng giận. Các con chú ý an ủi, động viên và giúp đỡ nó khi có điều kiện.

Các con chú ý nhiều hơn nữa chăm lo giáo dục các cháu thành những con người có đạo đức, có trí tuệ và tài năng. Chẳng bao lâu nữa, các cháu sẽ là lớp người kế tục, gánh vác trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ở đây, có ý thức chưa đủ, còn phải chú ý phương pháp giáo dục, phong cách giáo dục. Một nguyên tắc đầu tiên là: Phải coi con vừa là con, vừa là bạn, tôn trọng nhân phẩm các cháu ngay từ khi còn nhỏ, tuyệt đối không nên dọa nạt, đánh, mắng, sỉ vả...

5. Bố mẹ cả đời không ham danh vọng, không chạy theo lợi ích vật chất, không tôn sùng đồng tiền, sống thanh bạch, liêm khiết, không bon chen, giành giật chỉ 318tâm niệm phải sống chân chính, làm tròn bổn phận đối với đất nước, để sau này các con, cháu có thể tự hào về bố mẹ, ông bà mình. Sau Cách mạng Tháng Tám là hai cuộc kháng chiến. Nhớ lại những ngày đầu kháng chiến bỏ lại tất cả, theo tiếng gọi của Tổ quốc lâm nguy, rời Thủ đô ra đi mà sao lòng nhẹ tênh tênh, tâm hồn phơi phới, nung nấu một lời thề : "Ước hẹn ngày về chiếm lại non sông". Tuổi trẻ lớp lớp lên đường, đầy hào khí non sông, sẵn sàng chấp nhận mọi hi sinh cho Tổ quốc hồi sinh. Đó là khí phách anh hùng của thế hệ bố mẹ. Ra đi hai bàn tay trắng, trở về cũng hai bàn tay trắng, song bố mẹ không bao giờ nuối tiếc.

TAI HỌA MỚI

Đó là một trưa mùa thu năm 1998. Cái nóng hầm hập, bức bối của mùa hè đã qua, cái rét mướt và ẩm ướt của mùa đông chưa tới, tiết thu mát mẻ mới chớm với những rì rầm gió thoảng luồn trong những lùm cây rậm rạp, những bến đò bắt đầu vắng người sang. Tôi thường mừng trước dấu hiệu mùa thu mang tới khí hậu mát mẻ, trong lành rất tốt cho sự dưỡng bệnh của vợ. Rủi thay, điều không may lại xảy ra vào chính lúc này.

Tụy Phương đang ngồi xúc cơm ăn như mọi khi, Huyền, con gái nuôi ngồi trông. Bỗng Tụy Phương dừng lại, cúi xuống cởi dép. Huyền vội bước đến cởi dép và đỡ mẹ nằm xuống giường. Huyền nói gì đó với mẹ và hoảng hốt gọi: "Bố ơi! Mẹ không nói được". Tôi cũng hoảng sợ. 319Những trường hợp người bệnh bỗng "cấm khẩu" thường báo hiệu những điều chẳng lành. Tôi bảo gọi xe cấp cứu, và báo anh Tuấn Hiền. Tôi và Huyền cùng lên xe theo vào bệnh viện. Tụy Phương được đưa vào phòng cấp cứu của khoa thần kinh, do chị Hậu phụ trách.

Sáng hôm sau, Tụy Phương được chuyển sang phòng nữ, do chị Thục - Chủ nhiệm khoa - trực tiếp đảm nhiệm. Chị Thục khám bệnh, dặn Huyền:

- Nếu mẹ ngủ thì gọi dậy, khuyến khích mẹ vung tay, vung chân mạnh mẽ cho máu huyết lưu thông.

Tôi vào bệnh viện từ sáng sớm, đã đưa Tụy Phương sang phòng mới, cũng nghe chị Thục dặn dò, nên tôi làm theo. Tụy Phương ngồi trên giường vung tay, vung chân rất mạnh mẽ. Tôi có cảm tưởng Tụy Phương đã nhanh chóng phục hồi nên rất mừng. Thật ra, tôi thấy hơi lạ, các sách về bệnh huyết áp cao thường dặn khi huyết áp tăng cao bất thường, cần cho bệnh nhân nằm nghỉ bất động, yên tĩnh. Tuy làm theo lời bác sĩ Thục, nhưng tôi vẫn băn khoăn nửa tin nửa ngờ.

Tụy Phương bảo tôi:
- Về nhà thôi.
Tôi bảo:
- Bác sĩ Thục vừa khám xong, đợi ngày mai tôi sẽ xin về nhà.

Tuấn Hiền gọi điện, nói:

320- Bố nên báo cho anh Niệm biết.

Tôi nghĩ chưa có gì nguy kịch đến mức phải báo cho con cái, khiến chúng rối ruột không cần thiết.

- Bố không nên can thiệp vào tình cảm các con. Bố cứ báo tin, còn tuỳ con cái quyết định.

- Vậy anh báo tin cho Niệm đi.

Ngày thứ ba, mọi việc bình thường. Hoài Niệm báo sẽ ra thăm mẹ. Huyền để mẹ ngồi xe đẩy, đưa mẹ ra hành lang nghỉ. Tụy Phương ngó nghiêng rất phấn khởi, vui vẻ. Vì Hoài Niệm sắp ra nên tôi chưa đề nghị được về nhà.

Ngày thứ tư, khoảng 10 giờ sáng, tôi vào thăm, thấy Tụy Phương nằm bất động trên giường, nước mắt ràn rụa. Đã xảy ra chuyện gì? Tôi nắm xoa tay Tụy Phương, bàn tay ấm bình thường. Tụy Phương không nói. Tôi vẫn cố an ủi, mong xoa dịu nỗi đau của Tụy Phương mặc dù không biết nỗi đau ấy là gì. Đó là một buổi sáng đau buồn. Đến buổi chiều thì mới rõ nguyên nhân. Chị Thục cho biết đó là triệu chứng mất tiếng nói. Chị đưa Tụy Phương đi chụp cắt lớp; những vết chảy máu đã lan rộng sang cả bán cầu phải. Bệnh tình đã phát triển nghiêm trọng hơn trước.

Hoài Niệm từ miền Nam ra. Hoài Niệm cùng anh Hiền vào gặp bác sĩ Thục. Bác sĩ Thục nói:

321- Có một loại thuốc mới rất tốt, nên mua dùng cho chị Tụy Phương, nhưng chưa biết ý kiến gia đình thế nào nên tôi chưa kê đơn.

Hoài Niệm đồng ý ngay. Chị Thục gọi cho cửa hiệu dược đem thuốc tới, đó là Terneurine. Tụy Phương được tiêm Terneurine ngay sau đó. Từ đó, Terneurine là thuốc dùng hàng ngày của Tụy Phương. Thuốc Terneurine rất đắt. Đắt đến mấy cũng phải mua cho mẹ, Hoài Niệm đã chuẩn bị 10 triệu đồng mang ra, nay tặng bố mẹ để chữa bệnh cho mẹ.

Bệnh tình Tụy Phương đã sang một ngã rẽ đi xuống không cưỡng lại được. Tụy Phương không chỉ mất tiếng nói, khả năng vận động cũng giảm sút nghiêm trọng. Tụy Phương không thể tự ngồi dậy được, không thể tự thay đổi tư thế nằm. Tay phải, chân phải gần như bị liệt hoàn toàn, không tự co duỗi được. Đây là một tình thế hiểm nguy, là thời điểm lịch sử nghiêm trọng của gia đình. Từ nay, mọi nỗ lực của cả gia đình phải tập trung cho Tụy Phương, bảo vệ cuộc sống của Tụy Phương. Tôi mong tất cả các con đồng tâm, nhất trí, cố gắng phấn đấu cho mục đích ấy.

Tụy Phương nằm viện khoảng hai tuần. Tâm lý Tụy Phương ổn định, không có vẻ gì thất vọng, chán chường, buông xuôi. Có vẻ như, tuy không nói ra, Tụy Phương sẵn sàng chấp nhận số mệnh với thái độ rất bình tĩnh.

322Tôi tăng cường chăm sóc Tụy Phương hằng ngày, chú ý từ những điều nhỏ nhặt nhất. Nhân đó tôi ngẫm ra có nhiều chuyện rất nhỏ nhặt nhưng không kém phần quan trọng mà ngày thường ta ít khi để ý. Ví dụ như gối đầu vợ như thế nào là tốt nhất? Nếu đặt câu hỏi ấy cho tôi thì chắc chắn tôi cũng không thể trả lời ngay được. Với người khác, tôi nghĩ chắc cũng thế. Tôi đã khá nhiều lần thử nghiệm một cách có ý thức để cuối cùng tìm ra cách gối đầu tốt nhất cho Tụy Phương. Chắc có người cười nhưng đúng là vậy đấy!

NHỮNG NĂM CUỐI CÙNG CỦA CUỘC ĐỜI TỤY PHƯƠNG (THÁNG 9/1998 - 5/2007, TỨC 12/4 NĂM ĐINH HỢI)

Sức khỏe Tụy Phương giảm sút khá nhanh, nhanh hơn tôi nghĩ. Trong hai năm 1999-2000, có dấu hiệu tốt về nhận thức. Tuy không nói được nhưng Tụy Phương vẫn nhận thức được thực tế cuộc sống. Có lần, ngày tuần lễ tiết, con cái sửa soạn bày hoa quả lên bàn thờ, thắp hương. Tôi ngồi bên cạnh Tụy Phương. Tụy Phương ngước mắt nhìn ra phía cửa. Cửa mở, yên ắng. Tôi hỏi Tụy Phương muốn nói gì? Tụy Phương vẫn chăm chăm nhìn ra phía cửa. Tôi chợt nhớ ra hôm đó là ngày rằm, các con đã thắp hết một tuần hương. Tôi hỏi:

- Mẹ bé nhắc thắp hương phải không? Nhìn mắt, tôi biết mình đã nói trúng ý Tụy Phương.

323Một lần khác, Tụy Phương lại nhìn lên bàn thờ. Không phải ngày giỗ, cũng không phải mồng một hoặc ngày rằm. Vậy Tụy Phương quan tâm gì trên bàn thờ? Bàn thờ có một bình hoa, hoa đã héo. Có lẽ Tụy Phương muốn nhắc thay hoa tươi? Một lần nữa, tôi đoán trúng ý Tụy Phương. Mừng thì mừng nhưng cũng thật xót xa! Trong ba năm 1998-2000, một diễn biến mới là bắt đầu xuất hiện những ổ loét. Lần đầu tiên tôi biết thế nào là loét. Thật ghê sợ! Lớp da trên ổ loét thâm tím, lớp thịt bên dưới cũng thâm tím. Cô Thi, người giúp việc mới đến, có nhiều kinh nghiệm trông nom người già bệnh nặng, xin mua một con dao phẫu thuật. Cô lách con dao xuống dưới lớp thịt đã đổi màu để lóc ra, vứt đi. Sau đó, đắp thuốc vào vết thương. Đó là thuốc dân gian, gọi là "con ong" do Huyền tìm mua. Chị Vũ Thị Chín, bác sĩ, bảo đó là hiện tượng "hoại tử". Từ đó trở đi, hằng ngày phải làm vệ sinh ổ loét rất cẩn thận để tránh nhiễm trùng: sau khi rửa, lau khô, phải bôi i-ốt vào vết thương. Tuệ xót xa:

- Con thương mẹ quá, cứ như chúng con, bôi i-ốt như thế thì xót rẫy nẩy người lên. Vậy mà ngày nào mẹ cũng phải chịu đựng, mẹ thật kiên cường!

Bác sĩ Quân đến thăm, tôi nhờ khám bệnh cho Tụy Phương:

- Tại sao loét?
- Tại kém dinh dưỡng.

324- Không thể có chuyện ấy được, gia đình tôi đã bảo đảm suất ăn có đầy đủ dinh dưỡng.

- Cơ thể người già có khả năng hấp thụ một phần nhỏ dinh dưỡng cung cấp. Phải truyền dung dịch đạm cho bác gái và phải vào viện.

Các con tôi còn mời cả bác sĩ Nguyễn Trọng Anh, nguyên Giám đốc Bệnh viện Việt - Xô, đến thăm bệnh và cho ý kiến. Anh ở lại một giờ trao đổi với gia đình. Anh cũng thuyết phục gia đình đưa Tụy Phương vào bệnh viện. Đó là cuối tháng 12 năm 2000.

Tôi rất ngần ngại, nấn ná khá lâu, cuối cùng đến tháng 2/2001 mới đưa Tụy Phương vào bệnh viện. Tụy Phương nằm viện chỉ hơn chục ngày, có vẻ như họ chữa trị miễn cưỡng chiếu lệ. Điều quan trọng là Tụy Phương vẫn chịu được việc truyền dịch, và đó dường như là cứu cánh cuối cùng, cuộc thử nghiệm cuối cùng.

Tôi chỉ vào thăm Tụy Phương được một lần, buổi chiều ngày thứ hai ở Khoa Thần kinh. Tụy Phương tỉnh táo, khiến tôi yên tâm. Ngày hôm sau nữa, từ sáng sớm, đến lượt tôi vào cấp cứu, mổ lấy sỏi thận. Bệnh viện chọn phương pháp mổ hở, cho kết quả chắc chắn hơn nội soi. Gây tê tại chỗ, tôi tỉnh táo theo dõi được diễn tiến của ca mổ, không đau đớn gì. Trình độ chuyên môn của Bệnh viện Việt - Xô đã được nâng cao. Rất đáng mừng. Bệnh viện chỉ giữ tôi một tuần, Tụy Phương ra viện trước tôi hai ngày.

325Sau đó một tuần, tôi lại vào viện cấp cứu lần thứ hai để mổ ruột thừa. Cũng như lần trước, chỉ gây tê tại chỗ, nên tôi theo dõi được toàn bộ ca mổ, rất nhẹ nhàng, không đau đớn. Sau vài ngày không có biến chứng xấu, tôi được xuất viện.

Tình hình của Tụy Phương, trái lại, không sáng sủa. Mới khắc phục được ổ loét thứ nhất thì các ổ mới lần lượt mọc ra ở mông, chữa trị thì không mưng mủ nữa nhưng không hề mất đi, vẫn để lại dấu vết là những ổ tròn to bằng miệng cốc sâu hoắm; hằng ngày vẫn phải lau rửa cho khô ráo, rồi bôi i-ốt để khỏi bị nhiễm trùng. Thật đáng buồn là hiện tượng này có vẻ sẽ tiếp diễn. Tôi đành bất lực chứng kiến cảnh lở loét không ngừng tàn phá cơ thể Tụy Phương. Đó là sự thật hiển nhiên rồi! Thật đau đớn!

Rồi một điều phải đến đã đến. Một ổ loét xuất hiện ngay sau lưng. Tại đây không có nhiều thịt nên ổ loét không có hình tròn mà trải rộng khắp lưng, méo mó không ra hình thù gì, ổ loét không có thịt để đào sâu vào bên dưới, nên có thể gây nhiều đau đớn hơn cho người bệnh. Và điều hiển nhiên là không thể nằm thẳng, lưng áp xuống giường được nữa. Đến nước này thì đành mong cho Tụy Phương sớm thoát khỏi sự tra tấn liên miên ngày đêm của bệnh tật.

Con dâu cả từ Thành phố Hồ Chí Minh ra thăm mẹ nói:

- Bố yêu mẹ quá nên mẹ nấn ná, dùng dằng không đành lòng ra đi.

326Việt Triều mỗi lần vào thăm mẹ lại than thở:

- Mẹ thật kiên cường!

Xuân Như cũng về nước săn sóc mẹ.

Tôi nói với các con:

- Hoại tử lan khắp cơ thể mẹ, tàn phá sự sống của mẹ. Thương yêu mẹ, trước kia bố và các con hết lòng cầu mong cho mẹ tai qua nạn khỏi, kéo dài tuổi thọ. Bây giờ tình thế đổi thay, thương yêu mẹ thì hãy hết lòng cầu mong cho sự tra tấn hằng ngày, hằng giờ sớm chấm dứt càng sớm càng tốt. Đó là điều vô cùng đau đớn với các con cũng như với bố.

Tôi và các con cùng òa khóc. Không hiểu Tụy Phương có thấu cho không! Các con xúm vào ôm chầm lấy mẹ. Tôi an ủi các con:

- Thôi, đừng khóc nữa, kẻo mẹ cũng mủi lòng!

Đêm nào tôi cũng nửa thức nửa ngủ, nghĩ ngợi miên man. Và gần như đêm nào cũng vậy, cứ gần sáng là Tụy Phương tỉnh giấc quờ tay tìm tôi. Tôi nhìn mẹ bé. Mắt mẹ bé vẫn rất sáng, chỉ có điều là nụ cười đã tắt, bây giờ chỉ thấy nặng trĩu niềm ưu tư. Nhiều khi khó ngủ, tôi dậy ra bàn gõ máy, thỉnh thoảng dừng lại đến gần Tụy Phương quan sát giấc ngủ xem có yên lành không, hay trong người Tụy Phương có điều gì nóng lạnh bất thường chăng?... Nhiều khi vào khoảng 3-4 giờ sáng, tôi gặp cô 327Thi - người giúp việc - cũng dậy, lò dò từ gác xép bước xuống, đến gần mẹ bé săn sóc...

Cho đến một buổi sáng... Tôi ngồi viết từ nửa đêm, đến gần 7 giờ vẫn mải miết với bài viết thì thấy vợ chồng Tuệ, Huyền đang cùng nhau xúm vào chăm sóc mẹ. Tôi hơi ngạc nhiên, tại sao hôm nay các con đến sớm như vậy, nhưng vẫn không nghi ngờ gì. Tuệ và Huyền cùng nâng đầu gối mẹ lên xoa bóp. Tôi vẫn ngồi yên trước máy. Tuệ bỗng bước ra hành lang một lúc rồi quay vào nói:

- Bố sang buồng giữa, chị Diệu Anh muốn gặp bố.

Tôi ra khỏi phòng, vào buồng giữa. Ngồi chờ một lúc thì thấy Diệu Anh đi ngang qua cửa phòng mà không bước vào. Tôi đang định ra hỏi Tuệ thì Tuệ bước vào nói trong tiếng nấc:

- Bố ơi, mẹ mất rồi!

Quanh tôi, mọi thứ sụp đổ. Tôi úp mặt xuống khóc. Chỉ khóc mà không nghĩ được gì!

26 năm trước, ngày 5 tháng 3 năm 1982 là một ngày định mệnh!

26 năm sau, ngày 28 tháng 5 năm 2007 là một ngày định mệnh!

Ngày 28 tháng 5 năm 2007 (tức 12 tháng 4 năm Đinh Hợi), lúc 5 giờ sáng, Tụy Phương chuẩn bị bắt đầu cuộc hành trình tới cõi vô cùng. Tụy Phương trút hơi thở cuối cùng vào 5 giờ 45 phút sáng.

328Thật ngẫu nhiên mà hai ngày định mệnh gặp nhau, khép lại một vòng tròn định mệnh. Một ngày của quá khứ, một ngày của hiện tại. Một ngày đánh dấu một tai ương - bước ngoặt trong cuộc đời. Một ngày kết thúc một phần tư thế kỷ chiến đấu cho cuộc sống và khép lại cuộc đời. Vì sự ngẫu nhiên ấy mà những trang viết này của tôi càng có ý nghĩa đặc biệt. Đó là thay cho lời vĩnh biệt của tôi dâng lên hương hồn Tụy Phương với vô vàn tình thương yêu không bao giờ vơi cạn!

329Chương X

CHÙM THƠ TẶNG TỤY PHƯƠNG

BỪNG TỈNH(1)

Đêm khuya khoắt mình với mình

Bỗng dưng nhớ lại ngày rầy năm xưa Tỉnh ra đạo lý tình người

Biết cùng chia sẻ u hoài đớn đau

Trời thăm thẳm lấp lánh những vì sao Sao rụng đầy hồ rung rinh mặt nước Nghe gió thoảng thì thầm,

Lùm cây xao động, xào xạc lá rơi.

Rung động thinh không

lảnh lót tiếng chuông Trấn Quốc

(1) Chuyện xảy ra một chiều hoàng hôn và ban đêm trên đương Cổ Ngư bên bờ Hồ Tây trong thời đang yêu trước Cách mạng Tháng Tám, được kể trong Hồi ký Lê Tụy Phương Nghĩa tình năm tháng cuộc đời, tr. 83-85.

330như từ ngàn xưa vọng lại,

nhẩn nha bắt nhịp thời gian.

Đâu phải lời ru hồn vào cõi mộng quên đời rũ sạch bụi trần, thoát vòng tục lụy

Nghe khuấy động bao nỗi niềm đứt, nối

Nỗi đau nhân thế đau lại thêm đau.

Nghe sóng dậy trong lòng

Xót thương trăm nẻo ua về.

Tôi choàng tỉnh

Hớt hải đi tìm những ngày trước cơn giông bão, Vượt khúc rẽ tưởng đã chia đôi ngả

Tìm lại vòm trời chói ngời hạnh phúc

Về với bình yên

Với tình yêu say đắm cả đất trời.

Tôi lại là mình, mình lại là tôi

Vững bước bên nhau trong cuộc trường chinh Hết trường chinh này tiếp trường chinh khác Trường chinh đất nước cũng của đôi ta

Tay trong tay ta đi trọn cuộc đời.

Thứ năm, 16/3/2005

331Cảm hứng "BỪNG TỈNH"

Tôi sống lại những thời khắc xáo động trong một buổi chiều xưa. Trong bát ngát đất - nước - trời - sao, trong thì thầm gió thoảng, xào xạc lùm cây, bỗng ngân vang tiếng chuông chùa Trấn Quốc, lảnh lót, nhẩn nha bắt nhịp thời gian, xoáy sâu vào lòng người. Với tôi lúc ấy, không phải là tiếng chuông an ủi, xoa dịu nỗi đau, đưa người dứt khỏi trầm luân bể khổ, mà là lời nhắn nhủ thiết tha, thôi thúc, giục giã nhập cuộc nhân sinh thực tại, biết đau những nỗi đau đời. Một thông điệp tình yêu cao cả. Tôi bừng tỉnh.

Tôi quên đi nỗi buồn đau của riêng mình, chỉ thấm đậm nỗi buồn đau của Tụy Phương trong cô đơn khắc khoải. Tôi đã cố quên đi tất cả, nhưng giờ đây thương nhớ trở về da diết. Tình yêu chưa bao giờ tắt, nó như dòng suối gặp đá chắn đường vẫn len lỏi, trườn lên, ùa ra sông, ra biển. Sự bừng tỉnh đã vượt lên giận hờn, xóa đi cách trở, giữ vững mối tình đầu. Tình yêu dồn nén bấy lâu bùng lên thành ngọn lửa mãnh liệt. Con người trở nên tốt hơn, cao thượng hơn.

Sự bừng tỉnh càng trọn vẹn khi gặp lại Tụy Phương: "Tụy Phương ơi, tất cả tại anh". Đó là tiếng nói của tình yêu và lý trí. Tiếp đó là khẳng định "tình yêu của chúng ta vẫn toàn vẹn" và lời hẹn ước "chúng ta sẽ mãi mãi bên nhau" (Hồi ký Lê Tụy Phương, tr.83-85).

332Bài thơ là sự hân hoan trước sự trở về của tình yêu, sự hòa hợp của hai tâm hồn. Một là hai, hai là một. Hơn cả một lời hẹn ước, đó là một dự báo tương lai: đường còn dài, còn trải qua nhiều thử thách, nhưng ta vững bước "tay trong tay đi trọn cuộc đời". Điều ấy đã thành sự thật. Mối tình đầu là mối tình trọn vẹn thủy chung 65 năm vắt qua hai thế kỷ. Đời người có hạn, tình yêu là vĩnh cửu.

Sự bừng tỉnh này là bước ngoặt quyết định trong hành trình chinh phục, giữ gìn, bảo vệ, hoàn thiện tình yêu, bởi nếu sự xa lánh kéo dài thì ai dám chắc tránh được đổ vỡ. Nhưng tình yêu đã thắng.

Hà Nội, ngày 18/3/2005

333BÁT CANH CÁ DIẾC

Ba mươi sáu năm trước

Bát canh cá diếc ân tình không phai Bình thường và cao cả

Người nhận, người cho.

Ba mươi sáu năm sau

Người cho đã quên chăng?

Người nhận vẫn đinh ninh

Long lanh một tình người

Không bao giờ vơi cạn

Neo đậu

Tuổi thanh xuân

Một thời máu lửa.

Đã đến những trang cuối của Hồi ký Lê Tụy Phương. Tôi bỗng tự hỏi: Thư gửi chị Hoàng Thị Ái viết năm nào? Năm 1984. Tụy Phương có mang Xuân Như cuối năm 3341948. Vậy là cách nhau 36 năm. Tôi bất ngờ phát hiện một nét tiêu biểu của tính cách Tụy Phương: đó là sự biêt ơn.

Cuộc đời Tụy Phương là một thông điệp về học biết tôn trọng người khác, học biết ơn ghi lòng tạc dạ những gì người khác làm cho mình dù nhỏ. Đó là một phần trong thông điệp về nhiệt huyết và dũng khí dấn thân cho lý tưởng cách mạng; về sự khoan dung và nhân ái, tình yêu con người và nhân loại, như một chân lý vĩnh cửu.

• Thứ tu 8/2/2006
(tức 11 tháng Giêng Bính Tuất)

Lời bình

1. Chuyện Bát canh cá diếc được kể lại trong Hồi Ký Lê Tụy Phương Nghĩa tình năm tháng cuộc đời (Nhà xuất bản Phụ nữ, 2002, tr.208-209), như sau:

"Tụy Phương kể với chị Hoàng Thị Ái: Em được dự Hội nghị Phụ vận, được đọc đề án Đại hội Phụ nữ, trong lúc cơ quan đã chuyển từ ATK về khu III. Em nhớ có chị Trương Thị Mỹ còn ở lại ATK. Từ Đại Từ, em đi tắt qua Tam Đảo, em nghỉ một hôm ở cơ quan Bộ Kinh tế thăm anh Ngọc ở chân núi Tam Đảo phía Vĩnh Yên (đây là xã Tuần Lũng - NXN). Khi về học tập, thảo luận, tham gia 335ý kiến vào đề án Đại hội là những tháng em bắt đầu có mang cháu Xuân Như. Chị Trương Thị Mỹ thương em, mua cá diếc nấu canh cho em được bồi dưỡng".

2. Trong Hồi ký Lê Tụy Phương, tr.332, tôi đã nói cảm nhận của mình về chuyện này, qua đó nhận thức sâu sắc thêm về nhân cách cao đẹp của Tụy Phương. Đó là sự đánh giá dựa trên lý trí.

Còn lần này là dòng cảm xúc dào dạt tuôn chảy thành nguồn cảm hứng mãnh liệt, bật ra những tứ thơ, lời thơ. Bản chất thơ ca là nói lên những tình cảm sâu xa của con người, đặc tính thơ ca là hàm súc trong diễn đạt, thể hiện bản sắc riêng của mỗi người. Ngược lại, những rung động mãnh liệt của tâm hồn cũng gọi thơ, đòi thơ. Bài thơ xuất hiện và định hình, dường như là do bản năng, chỉ trong vòng một giờ. Sau đó, tôi đọc đi đọc lại, sửa chữa chút ít: thêm một câu (câu 9) "không bao giờ vơi cạn"; chọn giữa "lung linh" và "long lanh", hai thuật ngữ có nghĩa tương đương, "lung linh" có âm trầm và trùng với âm "đinh ninh" trước nó; "long lanh" có âm vang hơn, không trùng âm với chữ trước nó, và có vẻ như diễn đạt nổi bật hơn sự sáng trong của lòng nhân ái. "Long lanh đáy nước in trời / Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng" (Truyện Kiều, 1602-1603).

Bài thơ có hai khổ. Khổ đầu bốn câu nhắc lại chuyện bát canh cá diếc ba mươi sáu năm trước, rất bình thường nhưng vẫn mang một ý nghĩa cao cả cho cả người cho lẫn người nhận. Người cho (chị Trương Thị Mỹ) đầy lòng 336nhân ái, rõ ràng là vậy. Nhưng chắc hẳn chị Trương Thị Mỹ không nói, ví dụ: chị thương em nên chị nấu canh cá diếc cho em..., bởi nói thế có khác gì kể công, biểu hiện một nhân cách quá tầm thường. Chỉ Tụy Phương mới có quyền nói ra điều đó. Tụy Phương - với tư cách người nhận - là người thấm thía nhất ý nghĩa "cao cả" việc làm của chị Trương Thị Mỹ, và chính Tụy Phương đã nói ra điều này. Đối với Tụy Phương bát canh không chỉ là bát canh mà là cả một tấm lòng nhân ái, một sự thông cảm đầy tình nghĩa, Tụy Phương coi đó là một "ân tình" không bao giờ quên. Tâm hồn Tụy Phương nhạy cảm, sâu sắc, tinh tế và cao thượng biết bao!

Có một điều nên làm rõ là: chuyện bát canh, xét cho cùng cũng chỉ là một trong muôn vàn chuyện bình thường hàng ngày về ứng xử giữa những người bạn, "người cho" chẳng mấy khi nhớ lâu, nhưng lại in sâu vào tâm khảm Tụy Phương đến mức trong suốt ba mươi sáu năm Tụy Phương vẫn không hề quên, ắt phải có một nguyên nhân nào đó tác động mạnh mẽ đến Tụy Phương.

Tụy Phương đang mang thai, về tới cơ quan thì cơ quan đã di chuyển xuống khu III, chỉ còn chị Trương Thị Mỹ ở lại. Trong cuộc kháng chiến đầy gian khổ, tập thể cơ quan là gia đình, nơi tỏa ra sự ấm áp của tình đời, tình người, là điểm tựa tinh thần an ủi và động viên, tiếp sức cho mỗi người vượt qua trắc trở, khó khăn. Trước cảnh trống vắng ở nơi ở cũ, Tụy Phương chắc không tránh khỏi cảm giác chênh vênh và chạnh buồn cô đơn. Trong tâm trạng ấy, Tụy Phương đón nhận món quà của chị Trương 337Thị Mỹ như một biểu hiện của tình thương mến, cảm thông và chia sẻ.

Khổ thơ thứ hai, 8 câu, là vế đối xứng với khổ thứ nhất, nói điều gì xảy ra ba mươi sáu năm sau. Mở đầu là một câu hỏi, một nghi vấn: người cho đã quên chăng? Có thể ngờ rằng người cho đã quên. Người nhận (là Tụy Phương) thì không bao giờ quên. Trước tiên là không quên mối ân tình xuất phát từ bát canh cá diếc và gắn liền với nó, dựa vào nó, một vật thể hữu hình cụ thể. Đó là một ân tình riêng biệt, hạn chế về nội hàm bởi chính đối tượng của nó, cái nền của nó, hạn chế cả về thời gian (khoảnh khắc xuất hiện bát canh) và không gian (một địa điểm trong ATK). Ân tình ấy vẫn sống, vẫn đậm đà trong suốt ba mươi sáu năm là do được gìn giữ trân trọng trong tình cảm nhân hậu, thủỷ chung của Tụy Phương, trong khi người cho có thể đã quên chuyện ấy rồi.

Sau đó, bài thơ mở rộng biên độ, quên đi cái vật chất, gạt nó sang một bên, để từ cái hữu hình, cái cụ thể vươn đến cái vô hình, cái trừu tượng của khái niệm, từ một ân tình riêng biệt vươn đến "tình người" rộng lớn và rất đẹp, với cái ánh "long lanh" của tâm hồn trong sáng. Thời gian và không gian cũng mở rộng, không còn đóng khung trong một khoảnh khắc và một địa điểm.

Bài thơ đậu trong một thời kỳ lịch sử, lịch sử đời người: tuổi thanh xuân, lịch sử đất nước thời kháng chiến chống Pháp (1945-1954), và đây cũng là không gian chiến tranh trùm lên không gian cả nước.

338Câu cuối cùng ngắt thành ba đoạn: Neo đậu (2) - tuổi thanh xuân (3) - một thời máu lửa (4), như trèo những nấc thang gập ghềnh để lên tới tầm cao của chân lý phổ quát.

Chủ thể bài thơ cũng thay đổi. Đoạn 1 có hai chủ thể, người cho và người nhận, người cho nổi bật lên, mở đầu và đóng lại đoạn 1, người nhận xuất hiện dưới chân dung người giữ "ân tình không phai". Sang đoạn 2, hình ảnh người cho mờ đi, người nhận nổi lên thành chủ thể duy nhất của bài thơ và "tình người" nói ở đây được hiểu là khối óc và trái tim của Tụy Phương.

Bài thơ là một bài ca về tình người, tình yêu.

Thứ hai, 1/5/2006

339TRONG CÔNG VIÊN THỐNG NHẤT

Minh ngồi đó, trước bàn vẹt góc,

trong bán đảo ven hồ

Phút tiêu dao, đợi người mang nước đến

Mình ngồi đó, trên gốc cây tỏả bóng chiều tà

Trầm ngâm ngắm mặt hồ lặng lẽ

Những làn nước rập rờn trong gió nhẹ thu về

Ngày lại ngày, nhẫn nại, mình bước đi chầm chậm Tay vịn rào, quanh bãi cỏ tròn như những vòng định mệnh

340... Một thời đã xa mà vẫn sống

bất chấp thời gian

Mình vẫn đâu đây, tôi nhìn rất rõ Mình vẫn bên tôi, không thể nhầm lẫn được Tôi luôn cạnh mình

nâng niu, níu giữ từng hình, từng bóng mong manh cho chúng khỏi bay về cõi khuất Tôi có những giấc ngủ triền miên quên ăn, quên uống

Những giấc ngủ không mộng mị Đẹp biết bao, cứ êm ả thế mà đi Đi vào thế giới đầy sao

Tôi sẽ gặp lại mình.

. . .

341GỬI THƯ CHO GIÓ

Trời tĩnh lặng, vô hồn

như chưa bao giờ tĩnh lặng

như chốn hư vô chưa từng ghi dấu chân người Mình ở nơi đâu trong thăm thẳm nghìn trùng ? Mình ơi,

Tôi vốn mong mình đi bước trước

Để mình tôi thay mình nâng gánh sầu vạn kiếp Tôi vẫn yêu đời, lạc quan, vững tin lý tưởng Vẫn vui buồn những vui buồn thế sự những vui buồn của con cháu

những tiếng khóc, tiếng cười trẻ thơ trong mọi ngóc ngách cuộc đời dâu bể. Tôi vẫn biết

Viết vì mình, viết vì tôi

viết đời mình, viết đời tôi

viết miệt mài không ngơi nghỉ

Gửi gió mang đi

để nhịp đời không đứt đoạn.

342Trong sâu thẩm, một mũi khoan vô hình vẫn không ngừng xoáy vào tim rỉ máu Nước mắt cạn hết rồi,

thấm vào thịt,

vào xương,

vào máu.

Tôi không mong mệnh trời sớm đến

Một ngày còn ở là một ngày còn viết

Hay? Không hay? đâu có gì quan trọng Chỉ là chuyện hai người

Chuyện chung tình xa xưa đã thành nghĩa, thành tình muôn thuở

343Đớn đau mà rạng rõ trong hạnh phúc vô bờ Rung động trái tim đến lời THƠ để cất lên tiếng nói

Đó mới là điều đáng kể.

Tôi tĩnh tâm chờ,

tinh tâm sửa soạn cho cuộc trở về với vùng trời bao la không còn cô quạnh ngập tràn tinh tú lung linh

Hồn tôi sẽ gặp hồn mình

Mình lại là tôi, tôi lại là mình

Mãi mãi bên nhau, hai ta là một Vĩnh viễn, đạp lên thời gian

Vô thủy, vô chung...

344THỞ THAN

Ngoài song bóng tối mịt mùng

Nóng vẫn thiêu đốt như nung

Như mặt trời vẫn không ngừng đổ lửa Đau đớn hồn người đang vất vơ, vất vưởng Tìm hoài chẳng thấy chỗ dung thân

Ai thế nhỉ? Sao không lên tiếng gọi? Tôi muốn đón người trú tạm qua đêm Ngoài đó, đã ầm ĩ gió thốc, mưa giông Đang rít, gào, bốc lên trận cuồng phong tàn phá điên cuồng

345Sao im lặng thế?

Không cất lên một lời cầu che chở? Vẫn im lặng. Chỉ nghe gió gào thét bão tan Ai thế nhỉ?

Lời tri âm đã bị gió cuốn đi.

Im lặng!

Xót thương tràn ngập đất trời!

346Chương XI

TÌNH CẢM NHỮNG NGƯỜI Ở LẠI

NGHĨ VỀ TUỔI THƠ TỤY PHƯƠNG

Tôi ôn lại, ngẫm nghĩ về tuổi thơ Tụy Phương mà bùi ngùi thương xót "thân cò con lận đận". Tụy Phương sinh ra và lớn lên, không phải trong lượt là nhung lụa, không thuộc danh gia thế phiệt, một dòng họ Nho gia lẫy lừng (tuy có ông bác học chữ Nho, nhưng chưa một lần thi Hương và ở thời mạt vận của Nho học), hay lớp trí thức Tây học tiêu biểu cho thời đại thuộc địa, không giàu sang, phú quý, không phải tư sản, địa chủ, cũng không nghèo khổ, bần cùng... Tóm lại, là lớp bình dân "thường thường bậc trung".

Bố mẹ Tụy Phương được học nghề. Bố tốt nghiệp thông ngôn, nhưng thất nghiệp. Mẹ học hết chương trình đào tạo của Trường Nữ hộ sinh Quốc gia Đông Dương (Ecole des sage-femmes d Etat d' Indochine), nhưng trượt kỳ thi tốt nghiệp vì chống lại sự gạ gẫm bỉ ổi của viên hiệu trưởng khét tiếng háo sắc Le Roy de Barre, bị đẩy về trạm xá xã Phương Chung, huyện Hoài Đức, Hà Đông. 347Bố mẹ long đong tha hương, bươn chải mưu sinh. Éo le là bố đã có vợ ở quê với ba người con, hai con gái đầu và một con trai.

Mới tí tuổi đầu, bé Tụy Phương đã theo bố mẹ, từ Hà Đông dạt tới Thanh Hóa, đậu lại đất này hai năm. Lên bốn, Tụy Phương lẽo đẽo theo bố mẹ, cùng em trai, lên hai, phiêu bạt tới vùng mỏ, hết Mạo Khê đến Uông Bí rồi Hồng Gai, cuối cùng trụ lại Cẩm Phả.

Đất mỏ xa xôi đọng lại trong ký ức trẻ thơ với những bập bẹ đầu đời học chữ; những "ơ hờ..." mẹ ru con, những câu Kiều mượt mà, mẹ ngâm đêm khuya; hình ảnh những người thợ lam lũ, những chiếc xe lù lù rầm rập trên đường, cuốn theo những cơn lốc khói bụi mịt mùng. Đẹp nhất là trăng và biển. Ánh trăng trùm khắp không gian, bầu trời, lấp la lấp lánh trên mặt biển mênh mông, âm vang ầm ào sóng vỗ, từ tít mù khơi xô đuổi nhau thành những đợt sóng tràn bờ, nở bung thành vô vàn chùm hoa bọt trắng xóa, nghịch ngợm nô đùa. Trăng và biển, biển cùng trăng gieo vào tâm hồn thơ ngây bao nhiêu rung cảm, mộng mơ chưa hiện thành lời, trinh nguyên, trong sáng, diệu kỳ, hòa vào thiên nhiên bao la, huyền ảo.

Những năm đầu đời - sự bắt đầu của mọi sự bắt đầu - bé Tụy Phương đã nếm trải gian nan của cuộc sống, đã thấy một số cảnh đời cơ cực; đã thấm đẫm tình yêu của mẹ và tình chị em, trong dịu ngọt của lời ru, tiếng thơ; đã đắm mình trong thiên nhiên hoang sơ, kỳ vĩ, hé mở tâm hồn đón gió bốn phương.

348Sự trở về quê cha Nam Sách là thử thách mới, rèn luyện nghị lực, chí bền, khi sáu tuổi trải bộ hàng chục cây số một ngày hè nắng như thiêu như đốt... Những năm tháng ở quê cha với mẹ già, xa bố mẹ, mở ra trang mới cuộc đời. Cô bé vào tiểu học trường huyện, nhanh chóng hòà mình vào đông đảo cậu bé, cô bé đến từ "tứ xứ". Trường và bạn, thầy, cô giáo cùng với sách, từ nay là một phần của đời người. Một chân trời mới rạng mở, gợi biết bao suy tư, thổi bùng lên những ước mơ, hoài bão chưa từng xuất hiện trong tâm trí cô bé.

Cuộc sống với mẹ già, hai người chị và một người anh cùng cha khác mẹ, có những niềm vui và nỗi buồn, có hạnh phúc và éo le. Hai chị rất yêu quý em. Chị cả là chị Mực, hiền lành, thủ phận, bao dung... Chị thứ là chị Nhật, sống tại thị xã Hải Dương, học buôn bán, lanh lợi, giao tiếp rộng, có cảm tình với phong trào yêu nước, thỉnh thoảng về quê ở vài ngày, quan tâm giúp đỡ em học tập, thỉnh thoảng cho biết tin thời cuộc và dặn dò tâm huyết. Nhưng không phải mọi việc đều suôn sẻ. Cô bé Phương luôn phải đương đầu với người anh cùng tuổi nhưng cậy thế, luôn hoạnh họe, rất thích thú dọa nạt, sai khiến, hành hạ em. Tủi nhục, bị xúc phạm, cô bé vẫn cắn răng cam chịu. Sự tức giận ngấm ngầm dồn nén đến lúc nổ bùng thành những phản kháng quyết liệt, làm người anh khiếp sợ, từ đó nhũn như chi chi, còn cô bé thì được yên ổn, thư thái, thanh thản, chuyên tâm học hành, đạt kết quả xuất sắc, cuối năm được cử thay mặt lớp lên thị 349xã Hải Dương đọc lời chào mừng viên thanh tra giáo dục người Pháp.

Bé Tụy Phương tự hào, sung sướng, hạnh phúc. Nhưng Tụy Phương lại bùi ngùi cho số phận của những trẻ chăn trâu chỉ vì nghèo mà không được cắp sách đến trường. Nam Sách là thị trấn heo hút vùng quê, đêm càng vắng vẻ, leo lét ánh đèn dầu vàng vọt khiến cô bé mơ màng những nơi rực rỡ ánh sáng văn minh.

Mấy năm đó đánh dấu nấc đầu của sự trưởng thành, một bước phát triển còn chập chững về nhận thức, tâm lý, tình cảm. Giờ đây, bé Tụy Phương đã ý thức về bản thân. Hoàn cảnh và nỗ lực cá nhân đã dần hoàn thiện, ươm ủ những mầm non tơ của tính cách và nhân phẩm của cô thiếu nữ và thanh nữ Tụy Phương sau này. Đó là tình yêu thương mẹ cha và em, sự cảm thông những gian nan của cuộc sống và những cảnh đời bất hạnh. Trí tưởng tượng, những ước mơ về tương lai, hướng tới cái đẹp, ý thức về bổn phận và trách nhiệm, ý thức phấn đấu học tập, ham mê sách và kiến thức. Đa cảm nhưng biết kìm nén. Cứng cỏi dám chống lại bất công, bình tĩnh, tự tin trong tình huống nguy hiểm. Và lần đầu được biết về phong trào yêu nước của các liệt sĩ trong cuộc bạo động Yên Bái.

Trước mắt "cò con" là thế giới bao la.

Thứ hai, 26/6/2007

350VÀI KÝ ỨC VỀ TRAI NHI ĐỒNG MIỀN BẮC VÀ TRẠI SƠ TÁN CỦA CHỊ TỤY PHƯƠNG

Phan Thị Hiên(1)

Hôm nay đẹp trời, chúng tôi - một số cô nuôi đậy trẻ tại Trại trẻ Nhi đồng miền Bắc thuộc Hội LHPNTƯ vui vẻ phấn khởi tới dự lễ mừng thọ anh chị Tụy Phương tròn 80 tuổi. Trong mỗi chúng tôi đều mang những kỷ niệm đẹp về trại trẻ, về người lãnh đạo đầy tâm huyết, đầy sáng tạo với nghiệp vụ nuôi dạy trẻ - đó là chị Tụy Phương.

Tôi còn nhớ lúc thời bình cũng như thời chiến, chị đã hết lòng vì sự nghiệp nuôi dưỡng các cháu của trại theo phương pháp khoa học và đường lối giáo dục của Đảng một cách đúng đắn.

Khi trại trẻ đóng tại 20 Thụy Khê: Trước lúc chiến tranh chống Mỹ, trại trẻ chúng tôi có nhiệm vụ nuôi dạy cháu ở trại nội trú với lứa tuổi từ 3 đến 6. Có cháu một tuần mới được bố mẹ đón về ngày Chủ nhật, có cháu hàng tháng mới được đón về vì bố mẹ đi công tác xa. Do tình hình đặc điểm của trại trẻ, chị đã bố trí hợp lý, phân công tổ chức lớp một cách khoa học theo từng lứa tuổi để giáo dục cháu phù hợp với sinh tâm lý của trẻ. Chị đã 351lựa chọn các cô có nghiệp vụ sư phạm, có lòng yêu nghề, yêu trẻ phụ trách các lớp từ thấp tới cao từ 3 đến 6 tuổi, mỗi lớp không quá 30 trẻ. Chị truyền đạt cho các cô lấy phương châm giáo dục của Đảng và 5 điều Bác Hồ dạy làm kim chỉ nam để giáo dục các cháu của trại trẻ.

(1) Nguyên Hiệu trưởng Trường Sư phạm Nhà trẻ Mẫu giáo Hà Nội.

Hằng ngày các cháu được tổ chức học tập trên lớp các tiết học chính như nhận xét tập nói, thơ ca, chuyện kể, học hát, vẽ, thủ công, xếp hình, nặn, trò chơi phản ánh sinh hoạt,... theo chương trình của Bộ Giáo dục đề ra. Ngoài ra các cháu còn được tổ chức chơi ngoài trời, chơi nước, chơi cát, chơi vận động ngoài sân với những dụng cụ được nhà trẻ trang bị. Chiều tối sau giờ ăn cơm chiều xong, các cháu được nghe cô hát, kể chuyện, đọc thơ,... trước khi lên giường ngủ có giấc ngủ ngon, có giấc mơ đẹp. Cứ mỗi tuần vào ngày thứ Năm các cháu được đi dạo đi thăm vườn hoa của Vườn ươm Bộ Nông nghiệp để ngắm các loài hoa đủ màu sắc, xem bướm lượn hút nhị hoa, xem các con vật ở Vườn Bách thú Bách thảo, chơi dạo núi Nùng, nghỉ mát dưới bóng râm của các cây cổ thụ, qua đó các cô giáo dục các cháu lòng yêu thiên nhiên và giao tiếp với xã hội bên ngoài.

Đối với các cháu lớp trẻ lớn, các cô thường cho vẽ tự do các buổi đi chơi ngoài trời, có nhiều bức tranh đẹp tự tay các cháu vẽ được chọn triển lãm toàn trại. Ngoài ra các cháu tham gia biểu diễn văn nghệ, hát đơn ca, đồng ca, đóng kịch ngắn, múa lân,... khi trại tổ chức những buổi liên hoan nội bộ.

352Khung cảnh của trại thật là vui mắt, quang đăng, sạch sẽ, vệ sinh. Từ ngoài cổng trại vào, hai bên lề đường đều được trồng đủ các loài hoa có màu sắc, có hương thơm. Sân trại trẻ trồng cỏ thành thảm xanh mát dịu. Vườn của trại trồng đủ loại cây ăn quả (cà chua, na, chuối, đu đủ, khế ngọt, hồng bì, rau xanh). Cứ sáng sớm sau khi tập thể dục buổi sáng xong các cháu được đi dạo một vòng quanh trại để ngắm hoa, tưới cho hoa, hít thở không khí trong lành xong mới về ăn sáng, đi vệ sinh (lúc này là các cháu vừa ị vừa ăn quả lạc tiên đây) và bắt đầu vào lớp học tập một cách sảng khoái. Các tiết học được tổ chức đều đặn qua chơi mà học đã giúp các cháu ham thích học tập, không bị gò bó.

Ngoài ra, các phòng ăn, phòng ngủ, phòng chơi của các cháu được trang trí hài hòa, đẹp mắt, gọn gàng, sạch sẽ giúp việc giáo dục các cháu một cách gián tiếp về óc thẩm mỹ, thói quen vệ sinh, trật tự gọn gàng, ngăn nắp tạo cho các cháu tình cảm yêu mến gắn bó với trại.

Không những chị chỉ đạo việc giáo dục các cháu tốt mà còn chỉ đạo việc nuôi cháu tốt. Hàng tuần được lên thực đơn ăn cho trẻ theo lứa tuổi, bảo đảm đủ chất, đủ lượng, đủ dinh dưỡng giúp các cháu ăn hết khẩu phần, ăn ngon, các cháu khỏe mạnh, chóng lớn, đa số các cháu vui tươi hồng hào, trông các cháu có thể ví như một vườn hoa tươi.

Bên cạnh việc tổ chức ăn tốt cho các cháu, chị còn tổ chức kiểm tra sức khỏe cho các cháu. Theo định kỳ, 353liên hệ với các bác sĩ chuyên khoa (răng hàm mặt, bệnh viện lao,...) để khám bệnh phát hiện bệnh cho trẻ. Có kế hoạch bồi dưỡng cho các cháu sút cân. Hàng tuần các cô có nhiệm vụ báo cáo sức khỏe của trẻ để kịp thời giúp đỡ cháu khỏe mạnh.

Chị biết tận dụng các rau quả tươi do các bà, các cô trong trại trồng được để cho các cháu bữa ăn phụ sau khi ngủ trưa dậy hoặc mua sữa chua cho các cháu ăn sáng để tăng phần tiêu hóa làm cho các cháu ăn cơm ngon miệng. Đối với giấc ngủ của trẻ chị rất coi trọng, do đó chị đã phân công các bác trực đêm trông giấc ngủ cho các cháu là những người có tâm huyết, thương yêu các cháu, một lòng tận tụy với nghề nuôi dạy trẻ, có sức khỏe, cẩn thận, tỉ mỉ. Khi theo dõi giấc ngủ của trẻ có cháu ít ngủ, cháu hay mê sảng, cháu đái dầm,... thay kịp thời cho trẻ. Trời rét cháu đạp rơi chăn, bác đắp chăn lại cho các cháu, cháu trở bệnh đột xuất đêm hôm kịp thời phản ánh y tế để thăm khám điều trị cho cháu.

Vinh dự thay cho Trại trẻ chúng tôi được đón Bác Hồ đến thăm trại vào một buổi chiều tháng giáp Tết. Bác vui vẻ yêu cầu các cô đưa Bác đi thăm phòng ngủ, phòng ăn, phòng học của các cháu. Sau khi thăm các nơi xong, các cô tập trung cháu để Bác gặp gỡ. Trong buổi trò chuyện với các cháu, Bác hỏi: "Các cháu có yêu các cô không?" (lúc này là lúc các cô thót tim đây). Các cháu trả lời: "Có ạ". Bác lại hỏi các cháu: "Các cô có yêu các cháu c cô lại đứng tim vì một test khác của Bác không•

354về công việc dạy dỗ của các cô đây). Các cháu trả lời: "Có ạ". "Vậy các cháu và các cô thích gì?". Cô và cháu trả lời đồng thanh: "Thưa Bác, chúng cháu thích Bác chia kẹo ạ!". Bác Hồ cười tươi và chia kẹo cho cháu và cô (riêng cô Hiên được 2 cái vì Bác cho cả em Nghị đang ở trong bụng cô).

Bác Hồ ra về để lại trong lòng chúng tôi niềm hân hoan vui sướng vô hạn, riêng tôi vui mấy ngày liền.

Trên đây là giai đoạn tôi được sống với chị ở thời bình khi trại còn đóng ở 20 Thụy Khuê, sau này thời chiến trại phải đi sơ tán một số nơi như Lập Thạch (Vĩnh Phúc). Chúng tôi theo chị phụ trách các cháu tuổi từ 6-14 tuổi. Đặc điểm lứa tuổi khác với trẻ bé 3-6 tuổi. Các cháu ở trại bây giờ là lứa tuổi đã đi học, giao tiếp xã hội nhiều, sống cùng với dân rải rác ở 2 ngọn đồi (Kha Vũ và đồi cách Kha Vũ 2 km). Do đó việc tổ chức cho các cháu ăn, ở, học tập, bảo đảm an toàn tính mệnh cho các cháu phải thật tốt. Chị không quản gian lao khó nhọc để tìm địa điểm, những nhà dân tốt có lòng thương yêu trẻ để gửi gắm các cháu và các cô.

Đối với các cháu lớn, sinh tâm lý khác với lứa tuổi nhỏ, do đó, phương pháp giáo dục cháu phải thay đổi theo. Sau giờ các cháu học trên lớp về, các cô phải làm 355công tác quản lý cháu ngoài giờ tốt, bảo đảm an toàn cho các cháu trong thời chiến. Thời điểm này, chị đã khuyến khích động viên các cô tinh thần phục vụ "vô điều kiện" ngày đêm gần gũi các cháu, kiểm tra giám sát mọi sinh hoạt của các cháu tỉ mỉ hơn để giúp đỡ các cháu kịp thời trong mọi sinh hoạt (nề nếp ăn, ngủ, vệ sinh, học tập tại nhà,...), cách thức xử sự đối với dân không để dân kêu ca. Hàng ngày các cô phải đến nhà dân vài lần nơi có các cháu ở để làm công tác dân vận tốt, dân thương các cháu, các cháu yên tâm sơ tán giúp bố mẹ an tâm công tác.

Phương thức giáo dục trẻ lớn phải tổ chức tốt công tác đoàn, đội, vui chơi giải trí, thể dục thể thao,... kết nghĩa với trại bạn (Trại Nguyễn Bá Ngọc,...) đẩy mạnh phong trào thi đua trong các cháu, lấy gương tốt việc tốt để rèn luyện giáo dục trẻ về lao động tốt, nghe lời các cô và các bác nơi sơ tán.

Với tinh thần trách nhiệm cao chị đã lãnh đạo trại làm tốt công tác sơ tán cho các cháu có kết quả. Trong thời gian chiến tranh chống Mỹ ác liệt, các cháu đã được đảm bảo an toàn tuyệt đối không xảy ra điều gì đáng tiếc. Trên đây là một vài nét sơ lược nói về hoạt động của các cháu ở trại dưới sự lãnh đạo của chị.

Còn nói về các cô và các bác trong trại thì như thế nào? Tôi thiết nghĩ trại phát triển tốt là do chị lãnh đạo khâu đoàn kết nội bộ từ trên xuống dưới tốt. Khâu chọn lựa cán bộ, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ tốt, các cô các bác 356một lòng tận tâm, tận lực hết lòng vì các cháu. Chị đã vận dụng tốt phong trào thi đua yêu nước vào trong trại tốt. Bảo đảm tốt sinh hoạt hằng tuần, hằng tháng nêu gương người tốt, việc tốt để duy trì xây dựng trại.

Chị đi sâu đi sát để động viên kịp thời những thành tích của các cô bác trong trại. Có cô lên lớp đạt nhiều tiết dạy giỏi, có lớp trật tự học tốt, có cô ngày đêm tìm tòi sáng tạo làm giáo cụ trực quan để dạy trẻ. Thực hiện phương châm trẻ chơi mà học. Có cô thức gần thâu đêm để làm con rối, mặt nạ,... cho cháu đóng kịch, múa lân những đêm trăng sáng của rằm trung thu. Có bác chăm lo phòng ngủ sạch sẽ vệ sinh, trật tự, ngăn nắp, chăm sóc giấc ngủ các cháu chu đáo. Có cô, bác bảo đảm nấu ăn ngon cho trẻ. Cơm không sống, canh ngọt, thức ăn vừa miệng, trẻ ăn ngon. Có cô đạp xe hàng trăm cây số để chở gạo, thực phẩm ở Hà Nội về nơi sơ tán cho trẻ.

Có cô đêm 2-3 giờ sáng đi từ đồi Kha Vũ này đến đồi Kha Vũ kia cách nhau 2 km trong đêm để thăm khám điều trị cho cháu trở bệnh đột xuất...

Ngoài việc nêu gương người tốt việc tốt, chị đã vận dụng tốt công tác Đảng, Đoàn thanh niên, để đẩy mạnh phong trào thi đua trong đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức và các cô nuôi dạy trẻ, làm tốt nhiệm vụ nuôi dạy trẻ. Chị còn bồi dưỡng nghiệp vụ cho các cô. Cho các cô đi học tập huấn các lớp do Bộ Giáo dục mở để mở rộng tầm nhìn và kiến thức giáo dục trẻ, không bị lạc hậu. Chị 357cũng mạnh dạn đào tạo, đề bạt cán bộ, chị cho các cô đi học thêm văn hóa, trường sư phạm,...

Chị thường tâm tình với các cô khi rỗi rãi công việc về đối nhân xử thế, về chăm sóc gia đình chồng con, về kinh nghiệm sống, cách nuôi dạy con,... những kỷ niệm về chị đã in dấu tốt đẹp trong tôi.

Bây giờ đa số cô nuôi dạy trẻ chúng tôi đã về hưu, có người chuyển công tác khác. Chúng tôi vẫn không quên mái Trại trẻ Nhi đồng Miền Bắc thân yêu mà chúng tôi đã trưởng thành, chúng tôi không quên chị - người lãnh đạo mẫu mực, hết lòng tận tụy với nghề nuôi dạy trẻ, người chị yêu quý.

Riêng tôi hơn 10 năm được sống với chị đã học tập được ở chị nhiều trong nghiệp vụ nuôi dạy trẻ và đức tính mẫu mực, tận tụy, nhiệt tình trong công tác của chị. Khi về trường Sư phạm cô nuôi dạy trẻ, tôi đã phát huy được công tác quản lý học sinh nội trú có kết quả học tập khi còn ở trại dưới sự chỉ đạo của chị. Tôi vô cùng cảm ơn chị.

Hà Nội, ngày 1/1/2001

358THƯ BÀ ELISE SPIVAC

Đây là bức thư bà Elise Spivac viết sau khi bà Lê Tụy Phương tạ thế vài ngày. Đây cũng là bức thư cuối cùng bà Elise gửi bà Tụy Phương. Bức thư được đọc trong cuộc họp mặt một số đông (trong khoảng 550 học sinh cũ) ở các nhà trẻ của Hội LHPN Việt Nam do bà Lê Tụy Phương tổ chức và quản lý trong kháng chiến chống Pháp và sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc. Ngọc thân mến,

Phương thân mến.

Phương ơi, đối với tôi, bạn vẫn hiện diện, vậy nên tôi cũng nói với bạn. Linh hồn bạn đã siêu thoát khỏi hình hài, đáng tiếc biết bao, bạn đẹp đến thế và nụ cười diệu kỳ đến thế, dịu dàng đến thế, nhân ái đến thế, và đôi mắt vui tươi, long lanh, đôi mắt biết nói. Tôi những muốn vuốt ve bạn, vuốt ve nhiều, nhiều nữa. Tôi muốn hát những ca khúc Pháp cho bạn nghe. Tôi muốn ru cho bạn ngủ... Vậy thì, Phương ơi, tôi sẽ đến thăm Phương vào tháng 9, nhưng Phương không còn ở đó nữa, tôi biết tìm Phương ở đâu?

Tôi hồi tưởng ngày đầu tiên tôi gặp Phương năm 1978 tại khách sạn Hòà Bình, đến nay gần 30 năm. Tôi nhớ rằng, tôi hỏi Phương có thể giúp con gái chúng tôi 359học toán không? Phương nói hôm sau sẽ trả lời và ra về, cầm theo các cuốn sách. Hẳn là không rồi, toán quá phức tạp, nhưng ngược lại, Phương có thể dạy đạo đức cho Maya; ngay tức thì, chúng tôi hoan nghênh bạn. Từ đó, hằng ngày Phương đến với Maya, và tình bạn sâu sắc đã nảy sinh, gắn bó cô giáo với học trò.

Phương ơi, người phụ nữ cao quý, nhà hoạt động cách mạng, người che chở cho trẻ em trong thời bom đạn, chúng tôi không được biết tí gì về tất cả những điều ấy khi lần đầu chúng tôi quen biết Phương.

Chúng tôi chỉ biết rằng Phương ở Hội Phụ nữ Việt Nam. Chúng tôi hiểu rằng bạn là một người phụ nữ cao quý, nhưng bạn rất mực khiêm tốn, khiêm tốn đến mức, thậm chí đôi khi chúng tôi cảm thấy e dè. Có một hôm, Phương nói với cô bé Elise là tôi, Phương muốn học ở tôi, người phương Tây chăm sóc trẻ nhỏ như thế nào, vì tôi vừa sinh cháu bé Nicolas.

Phương ạ, tôi thật sự không bao giờ biết Phương đã học được gì ở tôi, ở chúng tôi. Tất cả những gì tôi biết, đó là, đã nảy sinh lòng kính trọng cao quý từ hai phía, sợi dây bền chặt giữa Maya và Phương, và tình bạn không gì phá vỡ được giữa hai gia đình chúng ta!

Ngọc ơi, bây giờ tôi muốn nói với bạn, với tất cả gia đình bạn, các con bạn, các cháu bạn rằng, cuộc sống tiếp tục; rằng, tôi sẽ kể về gia đình bạn với gia đình tôi; rằng, các con, cháu chúng ta sẽ tiếp tục gặp gỗ nhau, trên đất Việt Name, trên đất Pháp, hay bất cứ nơi nào.

360Cuối cùng, không gì đẹp hơn là kể với các bạn rằng, lúc này đây, ở Paris, một bé gái đang ngủ, cháu 8 tuổi, đó là cháu gái tôi, đó là con gái Maya. Và tên cháu là

PHƯƠNG!

Elise Spivac(1)

Chủ nhật, 16/9/2007

(1) Elise Spivac: Bà là phu nhân ông Simon Spivac - Phó đại diện UNICEP ở Việt Nam (1976-1978), đã giúp đỡ có hiệu quả thiết thực trong thời kỳ rất khó khăn của đất nước. Bà Elise tham gia giảng dạy tại Đại học Sư phạm, tham gia tích cực thành lập trường chuyên ngữ tiếng Pháp. Bà có hai người con, con gái lớn Maya học tiểu học từ xa, con trai nhỏ Nicolas.

Bà Lê Tụy Phương được mời dạy Maya trong hơn một tháng vào cuối năm học 1977-1978. Thời gian ấy, Maya tham gia Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh - đội viên nước ngoài đầu tiên của Việt Nam.

Mùa hè năm 1984, Maya từ Pháp sang thăm Việt Nam khi Hội trại lần thứ nhất vừa kết thúc. Khi xem tập Kỷ yếu, Maya nói: "Tôi cũng là học sinh của bà Phương, tôi xin được ghi vào đây cảm nghĩ và kỷ niệm của mình".

Sau khi rời Việt Nam, bà Elise nhiều lần trở lại Việt Nam ân cần thăm hỏi những người bạn cũ, trong đó có gia đình bà Lê Tụy Phương. Mọi lần, đến thăm gia đình, bà đều đến cạnh giường, hát những ca khúc tiếng Pháp cho bà Tụy Phương nghe. Lần này đến Việt Nam (từ 6/9 đến 17/9/2007), bà cũng có dự định ấy, nhưng chưa kịp thực hiện thì bà Lê Tụy Phương đã đi xa. Ngày 8/9/2007, bà Elise lên nghĩa trang Thanh Tước, đứng trước mộ, bà lầm rầm khấn vái và hát ca khúc Pháp, thực hiện một ước vọng thiêng liêng của mình trước vong linh người bạn thân thiết quá cố.

(Nguyễn Xuân Ngọc dịch và chú thích).

361CÔ TỤY PHƯƠNG VỚI GIA ĐÌNH TÔI

Trần Kiến Quốc

Đi Trại

Có một điều khá đặc biệt là hầu hết con cán bộ trung, cao cấp của Đảng, Nhà nước, quân đội thế hệ thứ nhất, thứ hai đều qua tay cô Tụy Phương dạy dỗ, chăm sóc ở Trại Nhi đồng suốt những năm kháng chiến chống Pháp trên Chiến khu Việt Bắc, đến ngày hoa bình sau 1954 trở về 20 Thụy Khê, rồi sơ tán đánh Mỹ lên Lập Thạch, Vĩnh Phú.

Với gia đình tôi, có lẽ, có quan hệ khá đặc biệt với gia đình cô Tụy Phương và chú Xuân Ngọc. Cha mẹ tôi sinh "hơi bị" ít con, có mỗi 8 đứa - 6 trai 2 gái. Đặc biệt hơn từ tôi (sinh 1952), Thành Công (1954), Hữu Nghị (1955), Hạnh Phúc (1956) - gần như sinh "năm một"(!). Ông bà nội thấy con cháu lít nhít về thăm thì cứ nói: "Con cháu cứ như ngan như ngỗng!". Đông thì vui đấy nhưng nuôi dưỡng, dạy dỗ ra sao? Khó lắm! Ngày nay, mỗi nhà chỉ có 2-3 con, chứ lúc bấy giờ nhà tôi có tới 8 "chiến sĩ" thì mới biết mẹ vất vả thế nào, trong khi vẫn phải đi làm việc do tố chức phân công.

Vốn là Chủ tịch Phụ nữ đầu tiên ở tỉnh Hưng Yên ngay sau ngày tham gia lãnh đạo cướp chính quyền, rồi 362là cán bộ phụ nữ ở Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên... suốt từ năm 1945 đến 1950; nên khi biết Hội LHPN có tổ chức Trại cho các cháu con em trong ngành thì mẹ đã bàn với cha tôi cho các con đi học nội trú để cô Tụy Phương chăm sóc, dạy dỗ.

Cuối hè 1958, tôi là trại viên đầu tiên trong gia đình, vào học lớp B, đến hè 1960 thì tốt nghiệp lớp A (vỡ lòng). Cùng lứa tôi là các bạn Nguyễn Quang Bắc (Tây Bắc, con chú Lê Quang Đạo và cô Nguyệt Tú), Bùi Chương (con bác Trần Quý Hai và cô Huệ), Bùi Công Chính (con bác Bùi Công Trừng), Nguyễn Tiến Bắc (con cô Hà Thị Quế và chú Tỉnh)... Sau tôi lần lượt các em Thành Công tốt nghiệp năm 1961, Hữu Nghị - 1962 (cùng Lý Tân Huệ, Nguyễn Việt Triều, Lê Hòà Bình, Hồ Bá Đạt, Nguyễn Chí Hòa, Nguyễn Văn Hòà, Nguyễn Đắc Hòa, Bùi Hoàn Chinh, Nguyễn Thị Hòà, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Việt Triều..) và Hạnh Phúc - 1964 (cùng Hồ Bá Lộc, Nguyễn Quang Tuệ, Vũ Hoàng Đan...). Chính như thế mà cha mẹ tôi vô cùng biết ơn các cô giáo ở Trại, đặc biệt là cô Tụy Phương, đã nuôi dạy 4 trong số 8 đứa con của gia đình ngay từ những ngày đầu chập chững biết đi.

Sau này khi đã "xuất chuồng", tôi hay rủ mấy anh em từng là trại viên (Toàn Thắng, Quang Bắc...) đạp xe xuống đón các em mỗi chiều thứ bảy. Đây cũng là dịp để thăm lại trường cũ và các cô giáo. Có lẽ vì thế mà các cô vẫn nhớ) cHúNg tôi!

363Những năm sau này, khi nhà tôi chuyển về khu 38 Trần Phú, ở cạnh nhà chú Vũ Hải, cô Phin có trại viên Toàn Thắng. Cô Phin công tác ở Hội và chơi thân với cô Tụy Phương, nên Xuân Nguyên con cô hay qua lại khu 38 chơi với Toàn Thắng. Vì thế chúng tôi còn có liên lạc với nhà cô qua Xuân Nguyên. Rồi chiến tranh xảy ra, lớn lên mỗi đứa đi học mỗi nơi nhưng khi gặp nhau, có kể chuyện ngày đi Trại là lại nhắc đến cô Tụy Phương.

Hơn 20 năm sau

Khi đã trưởng thành, đi bộ đội, đi học, rồi ra công tác; trong một lần về phép, mẹ tôi kể lại: "Lần vừa rồi Hội LHPN gặp mặt các cán bộ phụ nữ lão thành, mẹ có gặp cô Tụy Phương. Cô hỏi thăm mấy anh em con và hỏi "Kiến Quốc giờ làm việc ở đâu?", cô còn nhắc ngày ấy con ngoan và học giỏi lắm". Lúc đó là giữa những năm 1980. Vậy là xa Trại đã hơn hai chục năm mà cô vẫn nhớ trò. Thật cảm động!

Đầu những năm 1990 khi đất nước "vừa trong gian khó chui ra", thoát khỏi cơ chế bao cấp, tôi xin chuyển ngành rồi sang Ba Lan tìm "đường cứu nhà". Xa nhà, tôi hay qua lại thăm gia đình Ngô Hà Bắc, Việt Triều (con cô). Hai vợ chồng rất quý ông anh, học trò cũ của mẹ, rồi lây sang cả 2 đứa con. Các cháu cũng rất quý bác Quốc. Nay chúng nó chắc đã lớn cả rồi...

Năm 1993, tháng 8, mẹ tôi mất. Vừa phát tang buổi trưa thì tối hôm đó chú Ngọc đạp xe đến viếng. Sau khi 364ra thắp hương cho mẹ tôi, chú ra chia buồn rồi lưu bút vào sổ tang: "Tụy Phương ốm, nằm liệt giường nên không đến chia tay chị được. Chỉ mình tôi sang. Xin thắp nén tâm nhang cầu chúc chị an giấc ngàn thu. Thôi, chị an tâm về với anh Bình vì các cháu đều đã lớn và trưởng thành. Vĩnh biệt chị!".

Năm 1995, biết tin cô vào Sài Gòn chơi với gia đình anh Niệm, chúng tôi lại thăm. Sáng nào, chú cũng đẩy xe lăn đưa cô ra công viên Lê Văn Tám tập thể dục. Đúng dịp cưới, chúng tôi mời cô chú đến dự. Vì mệt không đến dự được nhưng cô cũng không quên gửi quà là một cuốn sổ nhỏ ghi công việc. Tôi vẫn lưu giữ cẩn thận món quà cưới đặc biệt này.

Năm 1996 vào dịp sinh nhật thứ 75 của cô, lũ trại viên chúng tôi kéo lên nhà chị Xuân Như, ở đường Hai Bà Trưng, mừng thọ. Cô vui vầy bên học trò cũ là con của bạn, của đồng nghiệp. Chúng tôi gặp lại anh Lê Võ Tiên Hưng cùng các bạn Hà Chí Quang, Vũ Toàn Thắng, anh em họ Hồ Bá (Đạt, Lộc, Chi), 2 chị em Hoà-Bình (con cô Bảy Huệ), nhà cô Đinh Thị Cẩn (Vinh Quang, Văn Hòa), nhà chú Lê Toàn Thư (Tất Thắng, Toàn Thịnh), anh em Lê Hoà Bình, Đắc Hòa... Cô điểm mặt và đọc vanh vách tên từng đứa cùng tên cha mẹ. Thật là kì lạ với trí nhớ tuyệt vời của cô! Cả bọn nhao nhao kể lại chuyện ngày ở Trại, còn cô thì tràn trề hạnh phúc bên lũ nhóc trại viên ngày nào mà giờ trên đầu có đứa đã điểm bạc.

365Sau đó, cô ra Bắc nhưng Tết nào cũng gửi thiếp vào chúc mừng chúng tôi. Bị liệt, cô chuyển sang tay trái tập viết. Tôi vẫn còn giữ những tấm thiếp với nét chữ run run của cô. Ngày Vân Anh sinh cháu Anh Thy, bà cũng gửi thiếp vào chúc mừng. Có lẽ tôi là một trong những học trò được cô dành cho sự ưu ái đặc biệt. Chúng tôi giữ mãi tình cảm này.

Năm 1998, thật không may khi đang dò dẫm trong nhà tập đi, cô giẫm phải đuôi con mèo. Lập tức cô bị ngã rồi biến chứng lần 2. Lần này, cô mất giọng hoàn toàn, tuy vẫn nhận biết người thân nhưng không thể trao đổi được suy nghĩ của mình. Chú Ngọc cứ lặng lẽ chăm sóc cô và giao dịch với đám học trò. Mỗi lần ra Hà Nội, tôi cố sắp xếp đến thăm cô.

Rồi giữa 2 đại gia đình lại có thêm nhiều chuyện vui. Anh Niệm và anh Chiến (anh cả tôi) đều là dân học sinh Trường Thiếu nhi Việt Nam Lư Sơn, Quế Lâm thuở 1953-1957. Cánh Lư Sơn, Quế Lâm thân thiết với nhau như anh em ruột. Rồi con cái họ lại chơi với nhau và cuối cùng, cháu Dương (con anh Niệm) falling in love rồi cưới cháu Minh Trang (con anh Chiến). Hai gia đình đã thân thiết lại càng gần gũi nhau hơn. Chỉ tiếc là ngày 2 cháu cưới, bà đã quá yếu nên không vào dự được.

Ngày cô ra đi

Một ngày đầu tháng 6 vừa rồi, bà đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 87. Vậy là cô giáo Tụy Phương, mẹ của các trại viên Trại Nhi đồng miền Bắc, đã mãi mãi đi xa.

366Thật tiếc tôi đang công tác xa nên không ra viếng cô được. Nhưng nghe Minh Tâm, Toàn Thắng kể lại: Trong đám khách đến viếng cô ở Nhà tang lễ Quốc gia thấy có nhiều đoàn là các thế hệ học sinh của Trại từ thời Khe Khao, Thụy Khê đến Lập Thạch. Cô có thể tự hào ra đi vì 550 học trò của cô đều đã trưởng thành và là những người có ích cho xã hội, không có đứa nào tham ô, tham nhũng, ăn cắp, nghiện hút, hại dân...

Xin cầu chúc cho cô, cho mẹ an giấc ngàn thu!

Sài Gòn, 8/2007

367NHỚ CÔ TỤY PHƯƠNG

Hồ Bá Đạt

Đến giờ cô đã đi xa, thật xa, nhưng kỷ niệm về cô vẫn mãi ghi nhớ trong tôi. Cũng như bao đứa trẻ trong Trại Nhi đồng Miền Bắc, tôi cũng hay khóc nhè, đái dầm, ỉa đùn... cũng làm cho các cô bảo mẫu phải lo lắng, bận tâm. Quả thật tôi không có gì nổi bật hơn các bạn khác. Thế mà hơn 30 năm xa cô, khi gặp lại, cô nhắc ngay đến cái tên húy: "Đạt "bột" phải không?". Lúc đó tuổi cô đã ngoài 70, lại còn mang bệnh trong người. Ở tôi có cái gì để cô nhớ mãi thế? Cả các anh, các chị con cô cũng không quên tôi.

Còn tôi thì không bao giờ quên cô cùng những kỷ niệm về những năm sống ở Trại, được sự chăm sóc của các cô. Miền Bắc ngày ấy vừa giải phóng được mấy năm, vậy mà các cô đã tổ chức được một trại kiểu mẫu. Sau này mới biết đó chính là nhà trường xây dựng theo mô hình giáo dục kiểu Macarenco của Nga. Thật tuyệt vời! Thật hạnh phúc cho tôi và những đứa trẻ được sống, học tập trong ngôi trường đó.

Năm 1995, cô vào Sài Gòn thăm các anh chị, tiện thể thăm bạn bè cũ ở Hội LHPN (Có lẽ lần đó cũng là lần đi dối già!). Được thông báo, tôi đến thăm cô. Đúng vào dịp 368sinh nhật lần thứ 75 của cô (21/3/1995), chúng tôi xin phép được đứng ra tổ chức một bữa tiệc mừng thọ. Cả bọn hẹn nhau kéo đến nhà chị Xuân Như ở chung cư trên đường Hai Bà Trưng. Ngồi trên xe lăn, bên những lẵng hoa đủ sắc màu, cô chỉ mặt rồi nhắc tên từng học sinh: - Hòà, Bình là 2 chị em con mẹ Bảy Huệ... Anh em nhà Bá Đạt, Bá Lộc, Tú Chi con ba Hồ Bá Phúc, mẹ Yến. Anh em Hòà Bình, Việt Hồng con mẹ Hường - thư ký cho bác Thập. Hà Chí Quang con mẹ Hồ Thị Chí, đúng không? Chúng tôi nhìn nhau, lè lưỡi thán phục trí nhớ tuyệt vời của cô. Cô lắng nghe bọn trẻ chúng tôi ríu rít nhắc lại kỷ niệm xưa. Trên gương mặt cô thể hiện sự viên mãn, tràn trề hạnh phúc. Cô say sưa ngắm nhìn những học trò nhỏ bé ngày nào do cô dạy dỗ nay đã lớn khôn, trưởng thành. Ngày ở Trại, tôi, Hòa Bình, Nghị "phệ", Tân Huệ... học cùng Việt Triều (con gái cô). Là con nhưng cô dạy dỗ Triều như với chúng tôi mà không hề chiếu cố, thậm chí còn nghiêm khắc hơn.

Sau này mỗi khi ra Bắc công tác, tôi tranh thủ đến thăm cô. Cô ngày một yếu. Lúc đầu còn có thể ngồi dậy nói chuyện, sau này chỉ nằm và không nói được nữa, nhưng nhìn ánh mắt cô biết cô vẫn nhận ra tôi. Hàng năm, gần tới ngày Nhà giáo Việt Nam, tôi lại gửi tặng cô một bó hoa.

Cô đúng là một người mẹ hiền, chăm sóc chúng tôi khi ba má bận công tác xa. Cô lo cho từng miếng ăn, 369giấc ngủ, lo lắng mỗi khi chúng tôi ốm đau. Cô chính là cô tiên trong truyện cổ tích. Mỗi khi chúng tôi khóc nhớ nhà, nhớ ba, nhớ má, là thấy cô âu yếm vỗ về và rủ rỉ kể cho nghe những câu chuyện "Chị em Tấm, Cám", "Rùa và Thỏ", "Cả nhà hái củ cải đỏ".

Giờ đây chúng tôi đã lớn khôn, noi gương cô, chúng tôi cố gắng nuôi dạy con cái như các cô đã nuôi dạy chúng tôi thuở nào!

370MỘT NGƯỜI CÁCH MẠNG CHÂN CHÍNH, NHÀ GIÁO MẪU MỰC

Trần Thảo Nguyên

Khi tôi viết những dòng này thì cô Tụy Phương của chúng tôi đã mãi mãi đi xa. Hôm nay đến tiền đưa cô, những kỉ niệm cũ về trại, về cô lại oà về trong trí nhớ... Chúng tôi, những đứa trẻ phải xa mẹ từ khi còn rất bé. Hầu hết cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ hồi kháng chiến đều phải gửi con vào trại trẻ để đi công tác, mẹ tôi cũng thế, mẹ gửi cả bốn chị em tôi vào Trại Nhi đồng miền Bắc, rồi trại sơ tán Lập Thạch... Từ đây chúng tôi được các cô nuôi dưỡng và dạy dỗ, từ đây chúng tôi có người mẹ thứ hai là cô Tuy Phương yêu quý.

Trẻ con xa mẹ lắm chuyện lắm, khóc nhè, nhớ mẹ, mong mẹ về,... trong chúng tôi nhiều đứa khóc nhớ mẹ, Cô Tụy Phương dỗ chúng tôi rằng - Bao giờ kháng chiến thắng lợi thì mẹ về, nhưng các cháu phải ăn khỏẻ, ngủ khoẻ, chơi ngoan để cho kháng chiến mau thắng lợi thì mẹ sẽ về. Trong trí óc ngây thơ của chúng tôi ngày ấy chẳng biết kháng chiến là gì, chỉ tin rằng mẹ sẽ về và thế là chúng tôi tin rằng kháng chiến nhất định thắng lợi. Chúng tôi hôm nay trưởng thành, đã là những đảng viên, những nhà khoa học, những cán bộ của Đảng của nhân 371dân đã từng được giác ngộ cách mạng từ khi còn rất nhỏ như thế đấy.

Trẻ con hay mong mẹ về, giống như lũ gà con tối đến tìm rúc vào lòng mẹ, chúng tôi ngày ấy xa mẹ, mong mẹ về lắm, nhưng mẹ chúng tôi đi công tác nào có hẹn ngày về!

Cô Tụy Phương là mẹ, tôi nhớ lại cái cảm giác nhớ mẹ đến cồn cào nhưng cứ nhìn thấy cô là lại bớt đi cái cảm giác nôn nao, mong ngóng ấy. Thế là tự nhiên trong tôi có phản xạ cứ nhìn ra con đường trước cổng trại để mong ngóng cô về, mong lắm. Cho đến khi thấy bóng cô tất tả đạp xe trên đường, rồi líu ríu bước chân, rồi nụ cười thật tươi với giọng nói thật ấm ngọt và chúng tôi trong lòng lại thấy bình yên, một cảm giác thật yên ổn hạnh phúc như được ở trong lòng mẹ. Viết đến đây tôi lại nhớ đến con đường dốc đầy đá ong và lá cọ ở xóm Si - Tân Lập - Vĩnh Phú in bóng cô trải dài trong nắng chiều. Thực sự là tôi đã từng mong cô như mong mẹ về.

Hôm nay nghe đọc điếu văn về cuộc đời và sự nghiệp giản dị của cô, tôi chợt hiểu chính cô Tuy Phương yêu quý của chúng tôi là người cách mạng chân chính và là một nhà sư phạm mẫu mực.

Hà Nội, ngày 4/6/2007

372THƯƠNG NHỚ CÔ TỤY PHƯƠNG

Bùi Hồng Thúy

Mỗi khi Trung ương Hội cần đến người đứng ra tổ chức trại trẻ, đều trách nhiệm và niềm tin vào cô vì biết rằng đã giao cho cô thì hoàn toàn có thể yên tâm vì thế nào cô cũng làm được. Cô đã thành lập Trại Khe Khao, đặt nền móng đầu tiên cho ngành giáo dục mầm non. Hòa bình lập lại, khi Hội cần thành lập Trại chăm sóc và nuôi dưỡng con em cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, cô lại có mặt. Khi nổ ra chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Trại cần phải đưa các cháu đi sơ tán lại cần đến cô. Tất cả các trại đều có bàn tay tạo dựng của cô; cô là người đứng mũi chịu sào của trại ở những thời điểm khó khăn nhất.

Khi tổ chức Hội Trại lần thứ nhất, mặc dù một bên người cô bị tai biến đi lại khó khăn, nhưng cô vẫn như một tổng chỉ huy. Khi triển khai một việc gì, cô cháu cùng nhau trao đổi, những việc gì có thể giúp đỡ chúng tôi cô không nề hà: gợi ý cho chúng tôi cách thức tiến hành, đến gặp ai đó để yêu cầu giúp đỡ công việc gì, cô còn gọi điện thoại trước để chúng tôi đến làm việc được dễ dàng,... Hằng ngày, hằng tuần cô cháu quây quần điểm lại những việc đã làm, việc gì chưa làm được và phải làm 373như thế nào... Năm đó Hội trại tổ chức ở Cung Thiếu nhi thật tưng bừng; các cô, các cháu, bố mẹ các cháu, con cái, vợ chồng của các cháu đến dự, cô còn lên phát biểu. Đến lần chuẩn bị Hội Trại này, tôi có cảm giác trống vắng và nhớ cô vô cùng.

Nếu như ở Liên Xô cũ có nhà giáo dục Macarenco thì cô Tụy Phương ít nhất cũng được tất cả các cháu ở các Trại Nhi đồng của Hội ví như Macarenco của Việt Nam. Mọi người vẫn thường nói với nhau: cô không chỉ nuôi mà còn dạy nữa, điều này làm cho những ai đã gần cô thì không thể quên cô được. Tuy cô không hề qua một trường lớp giáo dục nào mà sao cô vẫn nuôi dạy các cháu theo đúng phương pháp giáo dục hiện nay, bao giờ cũng đặt các cháu vào trung tâm của việc nuôi dạy trẻ. Trong đầu cô là cả một kho tư liệu về các cháu. Khi gặp bố mẹ các cháu, cô trao đổi với bố mẹ về sức khỏe, cách chăm sóc, tâm tính của từng cháu. Cho đến tận trước khi cô bị tai biến lần hai, cô vẫn nhớ tên từng cháu, con bố mẹ nào và quan tâm tới cả cuộc sống hiện tại của các cháu. Chẳng hạn như chị Minh Tâm đã kể, lần đó cô bảo tôi: "Con ơi, Chủ nhật tới con đi cùng cô đến thăm chị Minh Tâm vừa sinh cháu bé". Hôm đó tôi đi xe đạp, còn cô và Chi Lăng - con chị Việt Triều đi xích lô. Những năm đó vẫn là thời bao cấp, cô mang đến cho chị Minh Tâm một chai nước mắm. Tôi còn nhớ chị Tâm bảo với cô: người ta trâu chậm uống nước đục, nhưng cháu trâu chậm uống nước trong nên đặt tên con gái là Thủy. Mấy năm sau tôi lấy 374chồng, tôi mang thiếp mời đến để báo cho cô biết, nhưng không ngờ đến hôm đám cưới, cô đã đến chúc mừng tôi tại phòng cưới mà còn ở trên tận tầng 5 trong khi sức khỏe của cô như vậy. Tôi có cảm giác cô luôn luôn có mặt trong mỗi niềm vui và nỗi buồn của các cháu mỗi khi cần đến cô, kể cả lúc bé cho đến khi đã trưởng thành.

Khi cô bị tai biến lần thứ hai không nói được nữa, tôi gặp cô trong bệnh viện, thật tình cờ vì tôi không biết cô ốm. Sau trận ốm trông cô khác hẳn. Tôi đã không nhận ra cô khi gặp cô ngồi trên xe lăn ở hành lang bệnh viện. Nhưng cô lại nhận ra tôi. Tôi thấy mắt cô lóe sáng, miệng cô muốn gọi nhưng không ra tiếng. Sau này thỉnh thoảng chúng tôi đến nhà thăm cô, tuy cô không nói được nhưng nhìn nét mặt cô chúng tôi biết cô vẫn nhận ra chúng tôi và hiểu chúng tôi nói gì.

Hồi cô còn khỏe, thỉnh thoảng tôi đến nhà thăm cô, cô kể cho tôi bao nhiêu chuyện ở trại. Có lần cô kể: hồi ở Khe Khao, cô bị phê bình là nuôi các cháu theo lối tư sản, ngày thay ba lần áo. Buổi sáng ở miền núi trời nhiều sương lạnh phải khoác thêm áo, trưa trời hửng nắng sợ các cháu ra mồ hôi dễ bị viêm phổi nên các cô phải cởi bớt áo ra, tối trời trở lạnh lại phải mặc thêm áo. Sau này khi nuôi con nhỏ tôi càng thấm thía việc ngày phải mặc ba lần áo của cô. Cô còn kể cho tôi rất nhiều chuyện, với một người làm nghề xuất bản như tôi, tôi cảm nhận cô là một kho tư liệu cần phải lưu giữ. Cô cũng có ý định ghi chép 375lại, nếu tôi lúc đó là bây giờ thì tôi đã giúp cô được việc này. Nhưng muộn quá rồi!

Hội Trại lần trước, chị Minh Tâm nói chuyện với cô nửa đùa nửa thật, rằng: các cô dạy chúng cháu sống trong sạch quá, chân thật quá e rằng thời buổi này không thích hợp; chẳng có trại viên nào được là anh hùng, chẳng có trại viên nào trở thành những người thành đạt nổi tiếng trong xã hội, chúng cháu đã phụ lòng các cô. Cô vẫn cười rất vui vì cô tin rằng tất cả mọi trại viên đều trở thành những công dân có ích cho xã hội. Hội Trại lần này, đã 23 năm qua, tuy cô, bác Mân, cô Nhàn,... không còn nữa nhưng chắc chắn các cô, các bác rất vui vì tất cả mọi người đều mong muốn được gặp lại các cô ở trại, và có những trại viên đã thành đạt trở thành "người của công chúng" như Phó Thủ tướng - Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Thiện Nhân, Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam Trần Bình Minh,... và còn nhiều những người khác nữa. Trong khi chuẩn bị Hội trại, chúng tôi nói với anh Tây Bắc rằng: hôm này Hội trại anh phải mặc quân phục đeo quân hàm để lên phát biểu, nếu có lên vô tuyến thì các cô cũng thấy tự hào vì đã nuôi dưỡng được một "ông Tướng" như anh.

Cháu viết mấy dòng này như một nén nhang thắp để tưởng nhớ tới cô.

376MỘT TÌNH YÊU ĐẸP NHƯ CỔ TÍCH

Thanh Hương (1)

Thú thực, đã rất nhiều lần tôi cầm bút định viết về anh chị Nguyễn Xuân Ngọc - Lê Tụy Phương, hai người bạn lớn, hai tấm gương mà tôi vô cùng thán phục và ngưỡng mộ, nhưng rồi cuối cùng vẫn chưa viết được. Bởi vì... biết viết về khía cạnh nào đây? Cuộc đời và tình yêu của anh chị đều quá đẹp.

Khi tôi kể cho một số bạn bè nghe về một người đàn ông, một nhà trí thức cách mạng 90 tuổi đời, 60 năm tuổi Đảng, suốt 26 năm ngày đêm thường trực bên giường chăm sóc vợ ốm thì ai cũng bảo: "Sao Thanh Hương không viết đi ? Rất hiếm có một người đàn ông như vậy"! Vâng, quả là hiếm có. Hai cuộc đời và một tình yêu hiếm có. Họ quen biết và kết bạn với nhau cách đây ngót 75 năm. Năm ấy, 1935, anh mới 13 và chị 14 tuổi. Chị là cô gái Hà Nội hiền dịu, mảnh mai và anh là cậu học sinh con nhà nghèo chuyên mặc áo dài đen, quần vải chúc bâu trắng, mùa rét cắt da cũng chỉ độc một chiếc áo the đen. Họ vào học năm thứ nhất, cùng trường - khác lớp, ở trường Trung học tư thục Thăng Long, phố Ngõ Trạm (Hà Nội), nơi có những giáo sư danh tiếng như Bùi Kỷ, 377Đặng Thai Mai, Hoàng Minh Giám, Võ Nguyên Giáp, Phan Thanh, Phan Anh... Họ đều học giỏi, và suốt những năm học ở đó cho đến hết bậc Tú tài đều là học trò yêu của các thầy. Mà họ đâu chỉ có học. Năm 1935 họ vào trường thì năm 1936 phong trào Mặt trận Dân chủ do Đảng Cộng sản Đông Dương phát động bắt đầu lan rộng. Ở trường Thăng Long, nhiều giáo sư và học sinh nhanh chóng nhập cuộc. Trong số học sinh Thăng Long tham gia Mặt trận Dân chủ đầu tiên có chị Lê Tụy Phương và anh Nguyễn Xuân Ngọc. Có một điều làm tôi rất thú vị khi nghe chuyện kể của anh Ngọc là ngay từ thời ấy, mới còn là những cô cậu học sinh 14, 15 tuổi, họ đã có một tinh thần yêu nước sôi nổi, già dặn, nhưng đồng thời cũng có một trái tim hết sức đa cảm... và lãng mạn.

(*) Nhà văn, nguyên Tổng Biên tập báo Phụ nữ Việt Nam.

Anh Ngọc bắt đầu chú ý đến chị Tụy Phương, cô thiếu nữ có một vẻ ngoài mộc mạc, giản dị nhưng toát lên vẻ đẹp tinh thần trong sáng và cao thượng. Còn chị Tụy Phương thì chú ý đến anh Ngọc vì biết anh nhà nghèo nhưng có ý chí và học rất giỏi, thường được các thầy khen ngợi. Họ nối tiếp nhau vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc. Năm 1939, tròn 18 tuổi, chị Phương được giao nhiệm vụ làm liên lạc đặc biệt của Xứ ủy Bắc Kỳ thì anh Ngọc cũng mặc nhiên trở thành một trong những trợ thủ đắc lực của chị.

Mùa hè năm 1938 đặc biệt đáng ghi nhớ trong cuộc đời và tình yêu của anh chị. Chị Phương tìm đến tận nhà thăm anh Ngọc, trước là để truyền đạt lời thầy Đặng 378Thai Mai nhắn anh Ngọc đến gặp thầy, sau là để đính chính tin đồn chị Phương đã có người yêu. Và chị nói để anh biết rằng họ có thể trở thành bạn của nhau. Cuộc gặp mùa hè ấy đã đánh dấu một bước ngoặt trong tình bạn, tình yêu và cuộc đời của hai người.

Sau này, khi đã là một ông già 80 tuổi đời, anh Ngọc bồi hồi nhớ lại:

"... Đó là một sáng mùa hè 1938. Một mùa hè mang hơi thở cuộc mít tinh quần chúng khổng lồ ngày Quốc tế Lao động 1/5, vang dội tiếng hát Quốc tế ca của ba vạn con người dưới nền trời xanh thẳm và màu đỏ tươi rực rỡ của những lá cờ búa liềm phần phật trong gió như giục giã đoàn quân ra trận.

Tôi đang ở nhà một mình đọc sách. Có tiếng chân bước lên cầu thang. Tôi nhìn ra phía cửa. Thật bất ngờ. Trước mắt tôi là Tụy Phương! Cô ấy ăn mặc khác hẳn mọi ngày. Vẫn là bộ áo dài nhưng bằng lụa màu trắng phớt vàng may kiểu Lemur bó sát người làm nổi lên một cách kín đáo những đường cong duyên dáng. Đôi dép da thay cho đôi guốc. Không còn vẻ mộc mạc nhưng cũng không diêm dúa. Một nữ sinh Hà thành thanh lịch..".

Anh Ngọc kể tiếp: "Sau cuộc gặp, Phương có lần kể tâm tư của mình. Phương xúc động trước cảnh nhà neo đơn, chỉ có hai mẹ con đắp đổi nuôi nhau qua ngày. Ông bố bỏ nhà đi ở với bà khác, năm thì mười họa ghé qua nhà trao tiền trợ cấp cho mẹ con tôi, nhưng lúc có lúc không. 379Phương nhiều ưu tư, trăn trở, chưa biết làm gì để giúp đỡ mẹ tôi. Mẹ tôi thì kể: "Cô ấy" thỉnh thoảng đến thăm mẹ, thái độ ân cần, chân thực, mẹ cũng ấm lòng...".

Khỏi phải nói lúc ấy anh Ngọc sung sướng đến thế nào. Đã bao nhiêu lần anh mơ tưởng đến cô bạn học cùng trường nền nã và thông minh ấy, anh đã đi đi lại lại bao nhiêu lần trước cổng nhà chị và là nhà Hộ sinh Con Rồng bề thế nằm trên đường Henri d'Orléans (nay là đường Phùng Hưng, Hà Nội), mà chưa lần nào dám làm quen. Nay chị lại đến thăm anh. Họ vui vẻ nói với nhau bao nhiêu là chuyện, từ chuyện học hành, sách vở, chuyện công tác, bạn bè, cả chuyện về bố mẹ, anh chị em trong gia đình... Tôi nghĩ đó chính là "buổi sáng định mệnh hạnh phúc" của hai người, gắn kết họ cho đến hết cuộc đời.

Tôi đã theo dõi những trang hồi ký đầu tiên anh ghi lại thay cho chị Tụy Phương khi nó còn là bản thảo. Đó là năm 2000. Chị Phương đã bị tai biến mạch máu não 18 năm trời, đã đến giai đoạn ngồi xe lăn và mất tiếng nói. Anh Ngọc cũng đã về hưu được 14 năm. Từ khi không phải đi làm, bận bịu việc cơ quan (trước khi về hưu anh là Viện trưởng Viện Phân vùng Quy hoạch Trung ương thuộc Ủy ban Kế hoạch Nhà nước), anh tự xác định cho mình nhiệm vụ là cả ngày đêm chăm sóc chị. Ngoài ra, anh còn nung nấu một ý định: viết một cuốn sách về chị, dưới dạng hồi ký, sử dụng những trang ghi chép, những thư từ, nhật ký trước đây của chị, cả những câu chuyện 380chị đã từng kể cho anh nghe về công tác, về thời thơ ấu. Anh tâm sự với tôi:

"Thanh Hương không thể biết hết Phương đã có những đóng góp cho Đảng thầm lặng mà to lớn thế nào đâu. Suốt những năm trước khởi nghĩa tháng Tám, nhà hộ sinh Con Rồng của Phương đã là cơ sở bí mật của Đảng, làm nơi liên lạc và che giấu cán bộ, quyên góp tiền ủng hộ quỹ Đảng, lùng mua thuốc quý gửi cho các đồng chí trong tù... Nhiều đồng chí bị mất liên lạc đã qua Phương mà liên lạc được với Đảng. Còn với chồng, con, bạn bè, đồng chí thì Phương là một tấm gương hy sinh, tận tụy hiếm có".

Có một điều bây giờ tôi mới biết, do anh Ngọc kể:

"Hồi chưa cưới, có lần vì gia cảnh quá khó khăn, tôi phải chuyển qua học hàm thụ trường Luật và vào Vinh dạy học ở trường Cao đẳng tư thục Thuận An do anh Võ Thuần Nho làm Hiệu trưởng, để có tiền nuôi mẹ và trả học phí. Phương đã giúp tôi, ở nhà vừa đi làm vừa hoạt động cho Đảng, lại vừa qua lại chăm sóc mẹ tôi và hàng tuần đi mượn cả trăm trang bài vở của các bạn học trường Luật về chép tay gửi vào Vinh cho tôi theo học...". Năm 2002, cuốn hồi ký Nghĩa tình năm tháng cuộc đời, ký tên Lê Tụy Phương ra đời, làm cảm động bao người đọc. Nhưng cầm cuốn sách ấy, ít ai biết được rằng anh Ngọc đã phải bỏ ra bao nhiêu công sức, vừa sưu tầm tài liệu, tìm gặp bạn bè lấy thêm tư liệu. Tuổi tác đã cao, 381có đêm anh gần như phải thức trắng vừa cặm cụi bên bàn viết vừa canh chừng những cơn ho, những cái trở mình của chị.

Rồi bệnh của chị Phương phát triển sang một giai đoạn mới. Chị không còn ngồi xe lăn được nữa mà phải nằm bất động trên giường, ăn bằng xông và luôn phải có một bình oxy bên cạnh. Mỗi lần chúng tôi - những người bạn và người em "kết nghĩa" của chị - đến thăm, chị không còn biết mỉm cười và chậm chạp đưa bàn tay trái ra cho chúng tôi nắm như trước nữa.

Tôi thật xót xa nghĩ đến hình ảnh chị trước đây, một nhà giáo dục lúc nào cũng năng nổ tích cực phụ trách các trại trẻ hàng trăm cháu trên đỉnh núi Khe Khao thời chống Pháp hay trong các làng quê sơ tán thời chống Mỹ. Rồi sau khi về hưu là các cuộc đi nói chuyện triền miên về tâm lý giáo dục trẻ em, tâm lý giáo dục nữ thanh niên trong các khu phố, nhà máy, các đơn vị bộ đội, các trường đại học.

Các cơ quan đua nhau mời chị vì biết tiếng chị là một nhà tâm lý giáo dục thanh thiếu niên nhiều kiến thức và kinh nghiệm, lại có lối nói chuyện giản dị, nhẹ nhàng, chân thật rất dễ đi vào lòng người.

Một con người có một quá khứ hào hùng, một tài năng và một phẩm chất nhân hậu, thủy chung như vậy mà bây giờ nằm đây, bất lực không còn tự mình cử động, bất lực không còn tiếng nói!

382Có lần nhìn chiếc giường trải nệm trắng tinh, gọn gàng, sạch sẽ, chị nằm nhỏ thó một bên, một bên là một khoảng trống rộng có kê một chiếc gối ở đầu giường tôi hỏi anh Ngọc:

- Đêm vẫn có cháu gái phục vụ nằm bên cạnh chăm sóc chị chứ anh?

- Không, chỗ đó tôi nằm. Tôi không dám để các cháu trông Phương ban đêm vì sợ các cháu tuổi ăn, tuổi ngủ, có gì xảy ra mà không biết kịp thì nguy hiểm lắm.

- Thế chị cứ bị khó thở lục sục cả đêm thì anh ngủ làm sao được?

Anh Ngọc cười buồn:

- Phương phải thở oxy gần như suốt cả đêm qua... Không ngủ đêm được thì ngày tôi ngủ bù.

"Mà Phương vẫn còn tỉnh táo lắm đấy - Anh lại nói, giọng rất vui - Cứ sáng ra là quờ tay sang phía tôi nằm, tìm tay tôi. Tôi nắm lấy tay Phương thì Phương nắm lại, rất chặt".

Thật hiếm có đôi vợ chồng nào yêu thương nhau và một người chồng tận tụy đến vậy. Các con của anh chị, nay đều thành đạt, có 5 người thì 4 người ở xa. Người ở Thành phố Hồ Chí Minh, người ở Trung Quốc, ở Ba Lan, ở Mỹ. Cậu con trai áp út ở Hà Nội nhưng đã có vợ con, lại là một phó giáo sư tiến sĩ khoa học, công việc bù đầu nên cũng ít về.

383Nhớ những năm kháng chiến chống Mỹ khó khăn, nhiều lần chị đã phải giấu chồng đến bệnh viện Việt Đức bán máu để nuôi con và trang trải việc gia đình. Một lần đi bán máu về, chị kể với tôi, thấy tôi hoảng hốt và lo lắng, chị cười an ủi: "Không sao đâu em ạ. Về chị ăn một quả trứng, một đĩa rau muống là lấy lại được số máu ấy thôi mà".

Việc chị Phương phải đi bán máu lấy tiền nuôi con ây mãi sau này trong những ngày cuối cùng của chị, anh Ngọc mới biết. Anh khóc với tôi: "Tôi có tội với Phương, tôi thật vô tâm. Nếu đúc được tượng vàng cho Phương cũng không nói được những gì Phương đã làm cho gia đình, cho tôi và các cháu...".

Ôi chị Lê Tụy Phương! Chị hết lòng vì chồng vì con như vậy, và bây giờ anh cũng hết lòng vì chị như vậy. Chuyện cuộc đời, tình yêu và lòng tận tụy, thủy chung của anh chị, thời nay kể lại nghe cứ như là cổ tích!

Bây giờ thì chị Tụy Phương đã không còn nữa. Chị mất ngày 28/5/2007, thọ 87 tuổi. Trên bàn thờ chị, cạnh bức di ảnh là pho tượng bán thân bằng thạch cao của chị. Bức tượng không được đúc bằng vàng như anh Ngọc mơ ước, nhưng vẫn nói lên tất cả tình yêu, lòng cảm phục và nỗi tiếc nhớ khôn cùng của anh Ngọc, người chồng thương yêu của chị.

Tháng 5/2007

384NGƯỜI CHĂM LO NHỮNG MẦM XANH CÁCH MẠNG(1)

Kiều Mai Sơn (2)

Tại gác ba ngôi biệt thự tập thể số 1 phố Nguyễn Đình Chiều, quận Hai Bà Trưng, Thủ đô Hà Nội, tôi may mắn được trò chuyện cùng ông Nguyễn Xuân Ngọc, nguyên Viện trưởng Viện Phân vùng Quy hoạch - Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Ở tuổi 89 nhưng ông Ngọc vẫn minh mẫn. Ông trầm ngâm ngồi bên cửa sổ nhìn sang phía bên kia con phố nhỏ, điếu thuốc lá cháy dở trên tay lay lắt khói. Ông kể hơn hai năm nay ông không xuống dưới nhà, vì đôi chân đã yếu hơn, chỉ trừ ngày giỗ đầu bà năm 2008 vừa qua. Bà là Lê Tụy Phương, người cả đời gắn bó với công tác nuôi dạy trẻ mầm non.

Người giữ nhiệm vụ đặc biệt của Xứ ủy

Bà Lê Tụy Phương sinh năm Tân Dậu 1921, quê nội ở Nam Sách - Hải Dương; quê ngoại là làng Yên Phụ ven đô. Lên chín tuổi, bà theo bố mẹ ra Hà Nội. Từ 1935 đến 1940, bà học ở trường tư thục Thăng Long đến hết Tú 385tài phần thứ nhất, rồi bỏ học đi "vô sản hóa". 15 tuổi bà tham gia Nhóm nghiên cứu Mác-xít và Thanh niên Dân chủ Đông Dương. Bà hoạt động sôi nổi trong phong trào Mặt trận Dân chủ, hoạt động bí mật thầm lặng trong thời kỳ địch khủng bố ác liệt, với "nhiệm vụ đặc biệt trực tiếp với Xứ ủy Bắc Kỳ", tiếp đó là Tổng bộ Việt Minh, cho đến Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945.

(*) Báo Công an nhân dân cuối tuần, ra ngày 6/3/2011.

(* Nhà báo.

Với số tiền gom góp, dành dụm được trong những năm đi làm ăn xa quê, cộng thêm tiền vay mượn họ hàng thân thích, cụ Nguyễn Thị Châm và bà Lê Tụy Phương thuê ngôi nhà 127-129 Henri d'Orléans (nay là đường Phùng Hưng) mở Nhà Hộ sinh Con Rồng.

Chính nơi đây là địa điểm gặp gỡ, trao đổi giữa nhóm "bộ tứ" gọi chung là "Khanh - Kỳ - Tri - Quản" gồm Nguyễn Thường Khanh (tức nhà thơ Trần Mai Ninh), Đào Duy Kỳ (Bí thư Đoàn Thanh niên Dân chủ), Trần Đình Tri và Thành Ngọc Quản (tức Đào Văn Trường). Về sau lại có thêm những nữ sinh như Nguyễn Khoa Diệu Hồng (nguyên Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội), Phùng Thị Cúc (tức nhà điêu khắc tài hoa Điềm Phùng Thị)...

Khi Đại chiến thế giới lần II bùng nổ, thay mặt Xứ ủy Bắc Kỳ, đồng chí Đào Duy Kỳ là Quyền Bí thư đã giao cho bà Lê Tụy Phương nhận "nhiệm vụ đặc biệt trực tiếp với Xứ ủy". Đó là làm liên lạc, vận chuyển thư từ 386bí mật cho Xứ ủy đến các đồng chí hoạt động ở Hà Nội và ngược lại; vận động học sinh, trí thức đọc báo cách mạng và tuyên truyền đường lối cách mạng của Đảng; kiếm thuốc quý và quyên góp tài chính ủng hộ quỹ Đảng; trong trường hợp đột xuất khi các đồng chí lãnh đạo bị địch truy lùng cần tạo điều kiện che giấu để các đồng chí tiếp tục hoạt động...

Bà Lê Tụy Phương đã làm tốt mọi nhiệm vụ được giao, trong đó bà đã chuyển 60 đồng Đông Dương (một số tiền rất lớn hồi bấy giờ) để giúp đồng chí Hoàng Văn Thụ - Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng lo chuẩn bị Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII (5/1941) thành lập Mặt trận Việt Minh. Đồng thời bà còn tìm địa điểm ẩn náu an toàn đồng chí Đào Duy Dếnh (tức Đào Phan), nguyên Bí thư Thành ủy Huế, vừa vượt ngục, đi tàu từ Thanh Hóa ra nhận nhiệm vụ mới làm Bí thư Ban Cán sự (Bí thư Thành ủy) Hà Nội năm 1941.

Đầu tháng 4/1945, đồng chí Lý Chính Thắng từ Sài Gòn ra Hà Nội tìm gặp bà Lê Tụy Phương. Đồng chí cho biết: Đảng bộ Nam Kỳ cử đồng chí ra, nhờ chắp mối gặp Trung ương. Vì sau Nam Kỳ khởi nghĩa (23/11/1940) các cơ sở Đảng ở miền Nam hầu như bị thực dân Pháp đánh tan rã hết.

Vợ chồng ông bà Nguyễn Xuân Ngọc và Lê Tụy Phương đã chắp mối liên lạc để đồng chí Lý Chính Thắng tới làng Vạn Phúc gặp Tổng Bí thư Trường Chinh nhận 387chỉ thị của Trung ương. Nhận xong chỉ thị, Lý Chính Thắng trở lại Nhà Hộ sinh Con Rồng. Lúc này Thường vụ Trung ương đã cử đồng chí Cái Thị Tám làm giao liên cùng đưa phái viên của Đảng bộ Nam Kỳ về Nam. Hai người đi thẳng ra ga Hàng Cỏ (nay là ga Hà Nội). Vé của hai người và căn cước giả của đồng chí Cái Thị Tám do vợ chồng ông Ngọc bà Phương lo đầy đủ... Người nữ giao liên của Trung ương Đảng ngày ấy, sau này đổi tên thành Nguyễn Thị Kỳ, là phu nhân của cố Đại tướng Văn Tiến Dũng - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Sau này gặp lại ông bà Nguyễn Xuân Ngọc, Lê Tụy Phương tại miền Nam, đồng chí Hà Huy Giáp (1907- 1995), nguyên Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ, Phó Ban Tuyên huấn Trung ương kiêm Phó Hiệu trưởng Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, Bí thư Đảng đoàn kiêm Thứ trưởng Bộ Giáo dục rồi Bộ Văn hóa, Phó Trưởng ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, đã nhắc lại chuyến công tác đặc biệt của Lý Chính Thắng năm xưa: "Anh chị đã giúp Đảng một việc rất lớn".

Vì chính nhờ thư của Tổng Bí thư Trường Chinh và các tài liệu khác của Trung ương Đảng gửi cho Xứ ủy Nam Kỳ mà Xứ ủy khôi phục được liên lạc với Trung ương, đồng chí Hà Huy Giáp, Lê Hữu Kiều kịp ra dự Hội nghị Tbàn quốc của Đảng và Quốc dân Đại hội Tân Trào (8/1945). Từ đó có sự thông suốt từ Trung ương xuống Xứ ủy góp phần 388làm nên Cách mạng tháng Tám ở miền Nam và Sài Gòn khởi nghĩa thắng lợi (25/8/1945), riêng đồng chí Hà Huy Giáp là người chỉ đạo Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 tại Biên Hòà.

Người đầu tiên chăm lo những mầm xanh cách mạng

Kháng chiến chín năm ở rừng sâu Việt Bắc, bà Lê Tụy Phương đã tham gia sáng lập trại trẻ Nhi đồng ở Khe Khao để nuôi dạy con em cán bộ của Đảng, cho bố mẹ các cháu yên tâm công tác. Hòà bình lập lại, bà tiếp tục làm Giám đốc trại trẻ miền Bắc ở 20 phố Thụy Khuê cùng với các cụ Đặng Quỳnh Anh (bà O), Trần Thị Như Mân (bà Đào Duy Anh)...

"Có một điều khá đặc biệt là hầu hết con cán bộ trung, cao cấp của Đảng, Nhà nước, quân đội thế hệ thứ nhất, thứ hai đều qua tay cô Tụy Phương dạy dỗ, chăm sóc ở Trại Nhi đồng suốt những năm kháng chiến chống Pháp trên Chiến khu Việt Bắc, đến ngày hòa bình sau 1954 trở về 20 Thụy Khuê, rồi sơ tán đánh Mỹ lên huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú...".

Đó là bốn anh em Trần Kiến Quốc, Trần Thành Công, Trần Hữu Nghị và Trần Hạnh Phúc đều là con của Thiếu tướng Trần Tử Bình - nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc; ba chị em Đào Châu Thu, Đào Châu Vũ, Đào Minh Tri đều là con của ông bà Đào Duy Kỳ - Trần Thị Minh Châu; Nguyễn Quang Bắc (Tây Bắc) con 389trai Trung tướng - Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo và nhà văn Nguyệt Tú; Bùi Chương là con trai Trung tướng Trần Quý Hai; Bùi Công Chính là con trai nguyên Thứ trưởng Bùi Công Trừng; Nguyễn Tiến Bắc là con trai bà Hà Thị Quế - nguyên Phó Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Đảng... Danh sách này còn được nối dài hơn nữa, do khuôn khổ bài viết, chúng tôi chỉ xin trích ngắn gọn như vậy.

Nhớ về cô giáo Lê Tụy Phương, ông Trần Kiến Quốc, con trai Thiếu tướng Trần Tử Bình, một trong số những học trò của cô đã viết: "Cả dân tộc, nhiều thế hệ cha mẹ, nhiều thế hệ thầy cô và bản thân chúng ta đã hết lòng vì "sự nghiệp trăm năm trồng người". Nhưng có thể tự hào mà nói rằng: cô Tụy Phương của chúng ta chính là một trong những người đầu tiên chăm cho những mầm xanh ngay từ khi chúng vừa mới nhú lên khỏi mặt đất!".

Kể chuyện ông chăm bà

Không chỉ hoạt động tốt công tác xã hội, bà Lê Tụy Phương có cuộc sống gia đình đầm ấm, hạnh phúc do đôi tay bà dày công vun đắp. Năm người con của ông bà đều tốt nghiệp đại học, có người là Tiến sĩ Khoa học, đều là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Về hưu từ năm 1975 sau khi đã trải qua nhiều nhiệm vụ công tác tại Ban Phúc lợi xã hội - Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, biên tập viên Báo Phụ nữ Việt Nam, phụ trách trang "Vì tương lai con em chúng ta" và 390trang "Nữ thanh niên", tham gia tổ tư vấn "Thanh Tâm", Ủy ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em... bà vẫn tiếp tục các hoạt động xã hội, làm cộng tác viên của Ủy ban Thiếu niên Nhi đồng Trung ương, Viện Khoa học Giáo dục (Bộ Giáo dục), nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em lứa tuổi mầm non.

Đang hoạt động sôi nổi, không may năm 1982 bà bị tai biến mạch máu não, đến năm 1998 bệnh nặng thêm, đã mất đi tiếng nói... Trong điều không may xảy đến ấy, bà nhận được sự chăm sóc tận tình chu đáo của những người thân trong gia đình, của con đẻ, con nuôi, đặc biệt là của người bạn đời: ông Nguyễn Xuân Ngọc.

Suốt 26 năm trời từ khi bà Lê Tụy Phương bị tai biến, một ngày đi đâu 1 giờ đồng hồ ông cũng hỏi bà có đồng ý không? Bà đồng ý ông mới đi. Đi và về đúng giờ. Có một hôm ông về muộn vì phấn khởi quá khi sưu tầm được bài báo của bà viết từ khi còn làm ở Báo Phụ nữ Việt Nam. 6h tối ông mới về đến nhà. Người con gái nuôi đến thăm bà, xuống cầu thang thấy ông đang lên gác liền nói nhỏ: "Mẹ cứ ngó ra cửa chờ bố về".

- Một ngày khi tôi đi vắng phải có người ngồi bên cạnh nhà tôi. Bởi vì mình thông cảm với người không gọi to được, không nói được, khi thấy trong người bất an thì phải có người luôn bên cạnh.

Tụy Phương mất làm gia đình tôi đau đớn nhưng đó cũng là sự giải thoát đối với nhà tôi. Công đóng góp xây dựng gia đình của Tụy Phương rất lớn và đối với các hoạt 391động xã hội cũng vậy. Ngay buổi chiều hôm nhà tôi mất (2007), các con đi báo tin buồn cho bà con hàng xóm, chị Phạm Thị Trinh, vợ anh Nguyễn Chánh, Bí thư kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh Liên khu V, lúc ấy đã 94 tuổi, đi bộ leo cầu thang khóc ròng. Nhà tôi - Lê Tụy Phương - gây cho mọi người xung quanh suy nghĩ về vấn đề nhân tình, nhân ái. Đó là cái cốt lõi của Đạo đức Nho gia: Nhân ái, nhân tâm hòà hợp.

Hà Nội, 15/10/2010

392VỀ CUỐN SÁCH "NGHĨA TÌNH - NĂM THÁNG - CUỘC ĐỜI"

Trần Kiến Quốc

Giữa năm 2001, khi đang tham gia biên tập cuốn "Sinh ra trong khói lửa" (tập 1) của Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, nơi có nhiều trại viên của Trại theo học những năm 1965-1970, tôi được điện thoại của chú Xuân Ngọc báo tin gia đình đang cho in hồi kí của cô. Chú nhờ tôi lấy danh sách của các bạn ở Trại đang sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh để cô chú tặng sách. Thật là cảm động vì cô giáo thuở mẫu giáo, vỡ lòng (cách nay đã ba, bốn thập kỷ) vẫn nhớ đến học trò, rồi khi làm sách để lại cho đời lại không quên tặng chúng. Ở đời chuyện như thế quả là hiếm!

Sáng 30/1/2002, khi ra Hà Nội có việc, tôi tranh thủ tạt qua thăm cô chú. Cánh cửa cũ kĩ làm bằng mấy thanh gỗ già kẽo kẹt mở ra. Đã bao nhiêu năm, cô chú vẫn sống ở căn hộ cũ kĩ trên gác 3 của chung cư ngay góc đường Nguyễn Đình Chiểu - Trần Nhân Tông. Từ đây có thể nhìn ra công viên Lê-nin và hồ Hallé. Thấy tôi đến, chú dẫn vào phòng. Cô ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế xa-lông, trùm chăn ngang người phòng rét. Cô chằm chằm nhìn vào tôi. Đã hơn 3 năm nay, từ 1998, sau lần vô tình giẫm phải đuôi con mèo ở nhà mà cô bị ngã rồi biến chứng lần 3932. Từ đó cô không còn khả năng phát âm. Tôi ngồi xuống bên cạnh, nắm lấy tay cô: "Cháu Kiến Quốc đây, học trò của cô đây! Cháu ra đón huân chương cho cha và tranh thủ lại thăm cô". Không nói thành lời nhưng nhìn ánh mắt có cảm giác cô hiểu hết những gì tôi nói.

Rồi cô khẽ liếc nhìn sang chú. Hiểu ý, chú lấy ra mấy cuốn sách Nghĩa tình năm tháng cuộc đời đưa cho tôi. Cầm một cuốn lên, đọc qua tên sách, tôi nói:

- Cái tên sách hay quá! Trong đó có nhiều kỷ niệm về Trại, chứ chú?

- Có chứ, có 400 trang nhưng phần về Trại từ ngày ở Khe Khao đã chiếm tới 50-70 trang. Cả đời cô tâm huyết với công tác giáo dục, nuôi dạy trẻ mà.

Không có nhiều thời gian, tôi lật qua vài trang rồi nhận lời chuyển sách tới tận tay các bạn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Riêng nhà tôi có 4 đứa là học trò cô, suốt từ năm 1958 đến 1964, thì chú kí tặng những 4 quyển (Thầm nghĩ là cán bộ nghèo, cô chú in được sách thế này đã là quý, nay lại toàn tặng thì sợ lỗ?!).

Về đến nhà, tôi dành hẳn một ngày đọc đi đọc lại cuốn sách. Cuộc đời cô suốt từ ngày bé cho tới khi đi học, tham gia các tổ chức Thanh niên Dân chủ, Thanh niên Phản đế rồi Việt Minh Hoàng Diệu được ghi chép thật sống động. Cuộc đời cô gắn liền với cuộc đời của người bạn học Nguyễn Xuân Ngọc từ năm thứ nhất Thành chung ở Trường tư thục Thăng Long. Thật thú vị khi biết 394rằng Nhà hộ sinh Con Rồng (127-129 Phùng Hưng) của cha mẹ cô lại là nơi hội họp bí mật của Việt Minh Hà Nội. Tiếp đến là những ngày Cách mạng Tháng Tám sôi động, rồi Toàn quốc kháng chiến, sau đó cô chú rời Hà Nội lên chiến khu. Năm 1951, cô bắt tay vào xây dựng Trại nội trú Khe Khao, đón những học trò đầu tiên là con cái cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Hòa bình lập lại, cô tham gia xây dựng Trại Nhi đồng miền Nam, đón Trại Nhi đồng miền Bắc từ Khe Khao về Thụy Khuê rồi đến thời sơ tán chống Mỹ. Cô không chỉ yêu thương con em cán bộ ta mà còn có nhiều kỷ niệm với các cháu con em quốc tế.

Thật sung sướng khi xem lại hàng chục ảnh tư liệu đen trắng. Đây là hình ảnh ngày Trại đóng ở Khe Khao, Bắc Kạn, mấy anh mấy chị được ngồi xe goòng chạy vào nơi sơ tán, rồi mấy chú bé trong "Đội kèn tí hon" đang phồng mang trợn mắt thổi kèn (mà lại là kèn giả!). Ngày Trại về 20 Thụy Khê, có hình ảnh bọn con trai, con gái chúng mình từ dốc quả cầu chạy ùa ra sân chơi; hay chuyến đi nghỉ tập thể ở Đồ Sơn, cả bọn đang ngồi ở mỏm đá Bãi 2 tập vẽ... Cố hình dung ra đứa nào là mình mà không thể nhận ra.

Hạnh phúc lớn nhất là Trại được Bác Hồ rất quan tâm. Ngay ở trang bìa cuối có ảnh Bác đang cúi xuống trò chuyện với các cháu nhi đồng miền Nam.

Với lối hành văn mộc mạc, giản dị, chân chất, gần gũi như chính cuộc đời cô đã gây xúc động cho người đọc. 395Đây là một tư liệu sống về cuộc đời một con người gắn liền với sự nghiệp giáo dục mầm non, mẫu giáo cách mạng của nước ta.

Cả dân tộc, nhiều thế hệ cha mẹ, nhiều thế hệ thầy cô và bản thân chúng ta đã hết lòng vì "sự nghiệp trăm năm trồng người". Nhưng có thể tự hào mà nói rằng: cô Tụy Phương của chúng ta chính là một trong những người đầu tiên chăm cho những mầm xanh ngay từ khi chúng vừa mới nhú lên khỏi mặt đất!

396THƯ BẠN BÈ BỐN PHƯƠNG

THƯ BẠN MAI THỊ TRÌNH

Anh Xuân Ngọc kính mến,

Tôi đau xót hay tin xấu về chị Tụy Phương.

Gọi điện cho anh không được mà gửi điện tín cho anh cũng không được vì nằm một chỗ không đi lại được.

Chỉ có thể gửi thư nhanh cho anh để chia buồn với anh cùng gia quyến. Sẽ viết thơ thêm cho anh. Mong anh giữ gìn sức khoẻ.

Kính thư

TP. Hồ Chí Minh, 28/5/2007

Mai Thị Trình

Anh Ngọc kính mến,

Thật là đau xót. Tôi hiểu được tâm trạng của anh. Nhưng anh Ngọc ạ, chuyện phải đến rồi cũng đã đến. Chị Tụy Phương là người may mắn và hạnh phúc nhất trên đời. Nếu không tự mình biết rõ thì tôi không bao giờ tin có 397người như anh và một mối tình đẹp như thế. Anh đã làm được một việc quá sức một người thường.

Tôi mong anh nên thanh thản chấp nhận chuyện không thể tránh khỏi để tự lo cho bản thân. Tôi nghĩ đó cũng là ý của chị Tụy Phương và con cháu.

Tôi xin mạn phép nêu ý mình: Điều hay nhất là anh nên đi tránh nơi đầy kỉ niệm ấy. Tôi tin rằng anh làm thế sẽ tốt cho anh, vừa làm yên lòng con cái.

Anh Ngọc kính mến, giấy vắn tình dài, tôi thật không đủ lời để tỏ hết lòng cảm thông của tôi đối với anh. Phần tôi năm 2006 bị ngã gãy hai đốt xương sống. Hôm mùng một Tết vừa rồi (Đinh Hợi) bị viêm cơ và dây thần kinh, hậu quả của lần ngã, phải nằm viện hơn cả tháng, nay đã đi lại được trong nhà, không đi đâu xa được.

Tinh thần vẫn tốt. Chấp nhận số mạng vậy.

Kính chúc anh giữ vững tinh thần và sức khỏẻ

TP. Hồ Chí Minh, 29/5/2007

Mai Thị Trình

Anh Ngọc kính mến,

Thư trước tôi đã góp ý với anh là nên đi chơi cho khuây khỏả, nhưng tôi cũng biết anh khó lòng làm như thế, vì thông thường ai cũng muốn ở nơi đầy kỉ niệm thân thương, và tôi cũng thông cảm với ý ấy. Anh Ngọc ạ, tôi chỉ lo là bây giờ chị không còn nữa, lí do để anh cố 398gắng lâu nay không còn nữa, thì anh có thể thấy kiệt sức. Không tránh nơi đầy kỉ niệm thì anh cũng phải có cách của mình để giữ gìn sức khoẻ, không thể để các cháu thêm lo nghĩ. Tôi rất hiểu hoàn cảnh của anh hiện nay khó lòng nguôi ngoai. Cũng phải chờ thời gian thôi. Và cũng phải có ý thức vì những người còn lại và tự bảo vệ mình.

Nếu anh vào Thành phố Hồ Chí Minh thì cho tôi biết. Hiện thời tôi ít đi đâu, nhưng đi taxi thì được. Tôi sẽ đến thăm anh ngay.

Nếu có viết thêm thì cũng chỉ nói là anh cần chú trọng đên sức khoẻ của anh. Lâu nay anh vẫn làm thế là vì chị. Nhưng bây giờ lí do chính không còn, thêm vào đó là nỗi đau lớn nhất trong đời thì càng phải quan tâm hơn, anh Ngọc nhé.

Phần tôi thì không đi xa được nữa rồi, tuy thế vẫn rất mong được gặp anh. Chúc anh nhiều sức khoẻ.

TP. Hồ Chí Minh, 11/6/2007

Mai Thị Trình

Anh Ngọc kính mến,

Ngày qua ngày, tôi chỉ nằm một chỗ ít đi lại nên cũng mụ người đi. Vẫn nhớ anh, nhưng lúc này cũng hay làm biếng viết thư lắm.

Tôi thường nói chuyện với chị Tỳ nhưng cũng không nghe chuyện anh phải nằm một chỗ!

399Nay đã đi lại được, xin mừng anh, như thế là quá giỏi. Chắc là nhờ tinh thần anh quá tốt. Anh vẫn còn viết được, nhắc lại chuyện cũ, thế là hiếm có.

Tôi nay tuy chưa lẫn, nhưng có lúc cũng cảm thấy lẩm cẩm. Tuy thế, nhắc lại chuyện cũng còn rõ ràng lắm.

Xin hứa với anh là sẽ viết thư cho anh thường xuyên hơn.

Anh Ngọc ạ, anh đã sống trọn vẹn trong giai đoạn hào hùng nhất của đất nước. Anh lại có một cuộc tình quá đẹp. Anh vẹn với nước, trọn với tình. Thật là hiếm có.

Điều ấy sẽ là động lực giúp anh sống dài hơn trên cõi đời này.

Tôi rất mừng cho anh. Và phần tôi có thêm niềm vui được biết thêm một điều hiếm thấy trên đời.

Nếu có vong linh thì chắc chị Tụy Phương đã bằng lòng và luôn phù hộ anh, anh chắc cũng đã cảm thấy.

Tôi không tin có thế giới vô hình, nhưng riêng chuyện người yêu thương mình vẫn ở cạnh mình thì tôi tin. Và tuy ở một mình nhưng tôi không hề cảm thấy cô đơn, và những chuyện khó giải quyết cuối cùng tôi cũng tìm ra giải pháp, tôi tin là có sự hỗ trợ của người thân nhất.

Năm hết, Tết sắp đến (!). Xin chân thành chúc anh năm mới mọi sự như ý.

TP. Hồ Chí Minh, 23/1/2008 Mai Thị Trình

400THƯ BẠN MỸ - ĐỨC(1)

Sài Gòn 20/3/2000,

Anh Ngọc và chị Phương thân mến.

Tôi nhận thư anh trên một tuần rồi, nhưng tôi bị cảm nên người bị mệt chẳng muốn làm gì cả, mong hai bạn thông cảm.

Đọc thư anh, tôi rất cảm động vì tình nghĩa vợ chồng anh thật sâu đậm. Vợ hầu chồng thì thường tình rồi, đằng này là anh chăm sóc Phương cả 20 năm, lúc nào cũng quan tâm từ vật chất đến tinh thần rất chu đáo đầy tình cảm. Tôi quý anh vì vậy...

Anh hỏi tôi lại thăm Phương ngày nào, tôi phải lục sổ chi tiêu của tôi ra thì có ghi ngày mua vé ngày 17/9/1998, trưa ngày 18/9 tôi đi Hà Nội, tôi ra Hà Nội hôm 18/9 và đến 19/9 còn lo vài chuyện gia đình, chắc là đi thăm Phương vào sáng ngày 20/9.

Vào nhà thương gặp tôi là Phương khóc ngay, cứ nắm tay tôi. Tôi hỏi chuyện gì thì Huyền trả lời, tôi không để ý, nghĩ Phương mệt nên không muốn nói. Sau đó ngày 401nào tôi cũng vào thăm, Phương gặp tôi mừng lắm, cứ nắm tay tôi và giữ lại chơi rất lâu. Thế rồi tôi bị tai nạn xe, đau cả tuần không vào nhà thương được. Khi đã đỡ, tôi vào nhà thương thì Phương đã về nhà. Lúc tôi lại nhà anh, tôi mới biết Phương không nói được. Thật thương quá.

* Chị Mỹ, còn gọi là chị Đức (tên chồng) là chủ hiệu chữa răng và làm răng giả MINH SINH nổi tiếng ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Anh thật là người có ý tứ, muốn cho vợ luôn biết tin về xã hội, những chuyển biến mới trong nước nên anh đọc báo cho Phương nghe, còn tránh các tin buồn. Tôi rất khen anh làm một người chồng kiên trì săn sóc trông nom Phương không mệt mỏi.

Tôi cũng quen biết rất nhiều người bị tai biến như Phương, nhưng mấy người qua 10 năm đầu, hầu hết là vợ hầu chồng. Đằng này anh lại trông nom Phương không mệt mỏi. Đáng khen quá anh ạ!

Anh ạ, bây giờ tôi có nhiều bệnh người già: mắt kém, tai nghễnh ngãng may chưa điếc đặc, thêm bệnh lâu lâu lại run, tay cầm chén nước cũng muốn đổ, và thêm rất hay quên (bệnh lú lẫn ấy mà, Alzeimer).

Hơn một năm nay trông tôi rất già, không được như năm ra thăm anh và Phương đâu, chỉ còn tiếng nói vẫn rõ và rộn ràng. Sáng nào tôi cũng cố gắng đi bộ 1km, đi chậm, để duy trì đôi chân đừng bị bại.

Tương đối gia đình tôi vẫn yên ổn cả, các cháu vẫn đi làm đều, đủ sống nhưng không tích lũy được. Bây giờ sợ nhất là bị bệnh, không có tiền thì họ lơ là (ngành y đấy, 402rất thiếu y đức!). Tôi đã ngoài 80 rồi, thế là thọ rồi, nếu có đi cũng được, chỉ mong sao đi nhanh thôi.

Thư đã dài, tôi bắt đầu mệt rồi. Xin ngừng bút. Chúc anh nhiều sức khỏe và luôn vui để săn sóc Phương. Cầu mong Phương vẫn duy trì được tinh thần minh mẫn mãi.

Thân,

Đức

Thư 28/7/2000,

Thân gửi anh Ngọc,

Từ hôm anh cho biết tin Phương không thể nuốt được thức ăn, phải thông qua sonde, tôi thật sự xót xa và lo lắng không biết Phương còn chịu đựng được bao lâu ? Tôi quý anh là một người chồng tuyệt vời, qua 19 năm lúc nào anh cũng trông nom Phương rất chu đáo, tận tình, không lúc nào nản. Thật ra Phương lúc nào cũng mềm mỏng, đầy lòng nhân ái, rất xứng đáng là người vợ, người bạn đời quý hiếm.

Vợ chồng cô Khánh (em gái tôi) cũng đang ở Sài Gòn, đã ở chơi thăm vợ chồng cậu con trai được hơn một tháng rồi, mấy hôm nữa cũng ra Hà Nội trông nhà cho vợ chồng con gái đi dạy học. Cô kể là có đến thăm Phương ở nhà con trai trên Cầu Giấy. Nó kể là mắt Phương vẫn sáng và đẹp, da dẻ hồng hào, và vẫn không nói được. Tôi cho nó biết tình trạng Phương bây giờ, nó xót xa lắm...

403Anh ạ, tôi đã đọc tập Hồi ký (bản thảo Nghĩa tình năm tháng cuộc đời - BT) của anh. Nếu không có tập Hồi ký đó, tôi thân với Phương nhưng Phương không bao giờ kể đâu. Tôi cũng biết Phương hoạt động cách mạng nhưng không rõ cả hai anh chị đều một lòng phục vụ như vậy. Thật là can đảm, kiên trì phục vụ cho sự nghiệp lớn... Trên một năm nay tôi yếu nhiều, không được như năm xưa ra thăm vợ chồng anh đâu. Bao nhiêu bệnh tật của người già tôi đã có đủ: mắt kém, tai nghễnh ngăng, tay bắt đầu run và thêm bệnh hay quên (lú lẫn ấy mà). Cuối năm ngoái tôi bị phù chân, chữa đến ba tháng mới hết, cũng khá tốn kém. Sau cũng chỉ là bệnh thiếu đạm (tựa như suy dinh dưỡng ở trẻ em). Nay chân khỏi hẳn nhưng tôi ăn vẫn kém lắm.

Thôi thư dài rồi, tôi bắt đầu mệt, chữ viết đã xấu quá. Xin dừng bút và chúc anh nhiều sức khỏe để chăm sóc Phương. Rất mong Phương qua khỏi cơn ngặt nghèo này.

Thân,

Đức

Thứ 5/5/2002

Tôi đã nhận được quyển Hồi ký (Nghĩa tình năm tháng cuộc đời - BT) của anh chị rồi. Anh gửi cho cô Khánh nhưng chưa có ai vào Nam, mãi đến gần đây tôi mới nhận được nên chậm gửi thư cảm ơn anh chị.

404Cuối tháng 11 ta, năm ngoái, tôi bị ngã nhẹ thôi mà rất đau, không ngồi dậy được. Chịu đau ba ngày, phải vào viện để mổ. Bị gãy cổ xương đùi, mổ nội soi có 5 ngày xuất viện. Bệnh viện tư nên giá khá cao, không có chuyện "lót tay". Mổ được gần hai tháng thì con tôi mượn được của người khuyết tật một cái xe đẩy hình chữ nhật, chân trước có bánh xe, hai chân sau có cục cao su cứng (hình như để cho xe khỏi trơn). Hơn hai tháng nay, tôi tập đi như đứa trẻ, vẫn chưa đứng hai chân một mình được, phải dựa hay nắm một vật gì. Có chiếc xe này cũng đỡ cho tôi lắm, đi lại trong nhà được, đi vệ sinh một mình được. Nhưng tôi vẫn nhức bên chân mổ, nhiều đêm không ngủ được. Ăn uống rất ít, hay mệt.

Tôi đã đọc xong quyển Hồi ký, đọc nhiều ngày, nhiều đoạn rất cảm động chảy nước mắt. Có đọc quyển này tôi mới hiểu Phương hơn và rất quý Phương, và cả anh nữa, anh rất sáng suốt và xử lý rất hay. Trong quyển này có đoạn anh viết về anh Tín (anh rể tôi) đi đón ba ngày mới gặp được Phương. Tuy là bạn Phương, tôi chỉ biết lơ mơ là Phương có cảm tình với cách mạng thôi, không ngờ Phương can đảm và và giải quyết nhiều trường hợp rất hay. Quyển Hồi ký này tôi để ở đầu giường, lâu lâu lại giở ra đọc lại 5-10 chương. Quyển Hồi ký dầy thế, bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu sự kiện, anh phải viết trong bao lâu cho không bỏ sót chi tiết nào! Mấy năm trước tôi ra chơi đã nghe anh đang viết. Trí nhớ của anh thật vĩ đại! Tôi thán phục vô cùng.

405Bây giờ sức khỏe anh chị ra sao? Trí óc Tụy Phương vẫn minh mẫn? Vẫn chưa nói được? Nhưng có cầm bút được không? Vấn đề ăn uống ra sao? Có cầm được thìa? Và thức ăn vẫn theo lối puree?

Phần anh vẫn đi thư viện và đọc sách?

Cô gái nuôi đã có thêm đứa nữa chưa? Thằng con trai đã học hết mẫu giáo chưa? Còn chồng vẫn lái xe?

Tôi vẫn nhớ hai lần đi Hà Nội có thăm gia đình anh. Bây giờ tôi yếu nhiều, ăn rất ít, ngã đã trên 5 tháng vẫn chưa đi được, vẫn chưa đứng được một mình, phải dựa hay vịn vào vật gì và run lắm.

Tôi may có hai cháu gái săn sóc và có mượn người làm vì các cháu vẫn đi làm. Dẫu sao còn may vẫn cầm đũa ăn cơm được. Từ ngày ngã, đây là lá thư đầu tiên tôi viết cho anh đấy. Viết 2 ngày mới xong!

Tâm trạng của những người già không thiết sống là đúng đấy. Tôi cũng đang mong vậy.

Chúc vợ chồng Phương sức khỏe và vui sống. Tôi bắt đầu mệt rồi.

Rất thân và nhớ bạn.

ĐứC

406THƯ BẠN VŨ THỊ VINH HƯƠNG

Bắc Ninh, ngày 3/1/2008

Kính gửi anh Xuân Ngọc,

Thưa anh,

Hôm 25/12/2007, em tìm đến thắp hương nhớ chị và thăm anh - lần đầu tiên em gặp anh và anh cũng chẳng biết em là đứa nào, chuyện trò mới chỉ ngắn ngủi vì thấy anh mệt nên em không dám ngồi lâu. Thế mà anh đã cho em tập Hồi ký của anh chị, em rất xúc động và cảm ơn anh nhiều.

Em về nhà đọc một mạch 5 ngày liền. Từng trang, từng trang khiến em cảm động tận đáy lòng, có lúc đã rưng rưng lệ, em càng sâu thêm niềm quý - phục anh chị. Mồng 1 Tết dương lịch, em đã gọi điện thoại chúc Tết anh và báo cáo sơ bộ những suy ngẫm, cảm xúc của em về tập Hồi ký.

Hôm nay em viết những dòng này, chờ tuần sau anh ra viện em mới gửi. Xin tạm "khai sơ lược lý lịch" để anh rõ một chút (em sẽ kể kỹ hơn lần sau gặp anh).

Tốt nghiệp trường Thành chung Bắc Ninh xong, em học khóa sư phạm đầu tiên của nước Việt Nam Dân 407chủ Cộng hòa cuối năm 1945 đầu năm 1946, Bác Hồ đến dự bế giảng. Tiếp đó em học lớp huấn luyện Bầy trưởng Hướng đạo.

Em dạy học ở Bắc Ninh kiêm phụ trách thiếu nhi, Bầy trưởng Bầy Nhị trường, tham gia Ban chấp hành Phụ nữ xã, huyện, tỉnh.

Tây đánh chiếm toàn bộ tỉnh Bắc Ninh, em chuyển công tác lên cơ quan Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam sau Đại hội Phụ nữ lần thứ nhất ở Bản Quyên - Định Hóa, rồi Lúng Bủng, Chiêm Hóa, Tân Trào, Bản Khay, Sơn Dương.

Gần hòà bình, em trở lại ngành giáo dục, dạy học ở Hà Bắc, Bắc Ninh.

Dạy học tốt nên em được đi học Đại học Sư phạm Hà Nội (khóa 1961-1964), Sau đó về dạy học ở Hà Bắc, Bắc Ninh.

Những năm ở Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, em ở tổ Văn phòng, vẫn hay sang tổ Xã hội, tổ Tuyên huấn,... Nói chung chị em cơ quan gắn bó thân thiện trong hoàn cảnh đầy khó khăn gian khổ. Các chị đã lớn đã chăm lo rèn cặp bọn em, để lại nhiều kỷ niệm sâu sắc. Riêng với chị Tụy Phương, em rất quý từ ánh mắt, nụ cười và cách xử sự nhân hậu của chị.

408Hòa bình rồi, người về Hà Nội với Trung ương, người chuyển ngành tản mát bốn phương. Ban liên lạc cán bộ Hội ở ATK xưa vẫn triệu tập họp mặt chị em. Ở xa nhưng em vẫn cố gắng về dự, đó là những giờ phút hạnh phúc được thấy lại nhau, ôm chuyện xưa... líu ríu chỗ này chỗ khác chẳng nói được lâu; em lại ở xa, không có điều kiện đến thăm chị, các bạn, cho nên em đâu có biết gốc tích và dòng chảy cuộc đời chị Tụy Phương (cũng như một số chị em khác)... Cho nên đọc tập Hồi ký anh cho, em xúc động vô cùng, tự trách mình không đến luôn thăm chị, cũng trách cả các chị Ban liên lạc không thông báo đầy đủ về những năm tháng ốm đau của chị, về những công lao to lớn đáng tôn vinh của chị.

Rõ ràng chị là một đảng viên trí thức mẫu mực, hết lòng vì Dân vì Nước; một hình mẫu tốt đẹp của người Phụ nữ Việt Nam; một hình mẫu tuyệt vời của một nhà giáo giỏi, một nhà tổ chức giáo dục giỏi cho các lứa tuổi nhi đồng, thanh thiếu niên.

Thưa anh,

Nói bao nhiêu cũng không hết được, em xin kính tặng anh, chị những câu sau gói ghém những suy ngẫm và cảm xúc của em [em viết tiếp sang tờ giấy hoa tím nhạt].

Riêng với anh thì em nghĩ rằng Hội LHPN Việt Nam và giới phụ nữ (trong đó có bọn em) phải tôn vinh anh là một ĐỨC PHU QUÂN TUYỆT VỜI.

409Anh đọc xong, đặt lên bàn thờ chị, thắp nén hương hộ em. Xin cảm ơn anh và cầu mong chị độ trì anh mạnh khỏe để hoàn thiện và tái bản Hồi ký - món quà tinh thần quý báu...

Kính tặng Anh - Chị Xuân Ngọc - Tụy Phương quý mến ANH CHỊ ngôi sao sáng giữa Đời

Vì Dân vì Nước chẳng hề vơi

Tình riêng nghĩa lớn hai trong một Biết mấy gian nan những dặm dài. Biết mấy gian nan những dặm dài Phi thường nghị lực vượt chông gai Tài - Tâm hành xử ngời nhân cách Chồi biếc vườn ươm hoa thắm tươi. Chồi biếc vườn ươm hoa thắm tươi Bao nhiêu "con cháu" đã nên người Có anh gắn bó cùng chia sẻ

Bệnh tật đường trường vẫn dẻo dai! 410Bệnh tật đường trường vẫn dẻo dai Diệu kỳ: cùng vượt bát tuần vui,

Lung linh ánh lửa trang hồi ký

Đôi lão uyên ương quá tuyệt vời!

Đôi lão uyên ương quá tuyệt vời

Em mong tác phẩm vọng nơi nơi

Tấm gương - bài học cho nhân thế THẦN TƯỢNG TÌNH YÊU đẹp đất trời!

Em: Vũ Thị Vinh Hương (Tú Hương)

411THƯ BẠN TRẦN VIỆT PHƯƠNG

Chị Tụy Phương và anh Xuân Ngọc thân quý,

Tôi đã đọc gần như một mạch 435 trang của cuốn hồi ký Nghĩa tình năm tháng cuộc đời. Qua từng trang, tôi có một cảm giác rất thân quen, rất gần gũi, rất gắn bó, như tôi nhớ lại những kỷ niệm về một người bạn, người đồng chí mà tôi từng được gặp nhiều năm cùng chung sống trong tổ hoạt động cách mạng bí mật, một đơn vị chiến đấu, một cơ quan công tác.

Trong lòng tôi dâng lên niềm cảm phục và biết ơn một người phụ nữ, một trí thức, một nhà giáo, một cán bộ dân vận, một nhà báo, một tuyên truyền viên, một người con, một người vợ, một người mẹ, một người bạn, một người cộng sản, một người Việt Nam, một con người, một nhân cách trong sáng toàn diện về mọi chức năng gia đình và xã hội. Từ thời thanh niên, tôi đã luôn khao khát rằng con người đã tốt thì hãy tốt đến cao thượng, và đã đẹp thì hãy đẹp đến toàn bích.

Qua cuốn Hồi ký này, có từng lúc tôi đã thấy được sự cao thượng toàn bích ở chị Tụy Phương, thể hiện trong tầm lý tưởng, đức hi sinh, lòng dũng cảm, tính vị tha, tình thương yêu, đức trung thực, chất dịu hiền, sự khiêm tốn. 412Nhờ có dịp gặp gỡ cũng nhiều con người trong cuộc đời này, tôi nhận ra rằng những phẩm chất của chị Tụy Phương là hiếm có, nhưng không phải có một không hai, mà là có nhiều không ít trong dân tộc ta, từ thời hoạt động cách mạng bí mật, rồi thời kháng chiến cứu nước đến thời đổi mới ngày nay, trải qua năm sáu thế hệ người Việt Nam ta, với lớp lớp những nhân cách lớn và đa dạng. Điều đáng quý nhất của chị Tụy Phương là giản dị chứ không lập dị, bình thường chứ không phi thường, quần chúng chứ không xuất chúng, rất người chứ không khác người.

Cuốn Hồi ký này cũng cho thấy vẻ đẹp của anh Xuân Ngọc, của cụ thân sinh của chị Tụy Phương và bà mẹ anh, của nhiều bạn bè, cộng sự và học sinh của chị. Từ chân dung một con người, có một số chỗ cuốn sách đã vươn đến sự phác họa chân dung một gia đình, một tập thể, một thế hệ, một dân tộc, trong một thời không thể nào quên.

Cuốn Hồi ký này lôi cuốn người đọc trước hết bằng chất chân thực của cuộc sống, song cũng bằng cả tấm lòng và tài năng của người viết và của người kể chuyện. Tuy nhiên, khi đọc cuốn sách này thì tôi quên đi câu văn, mà chỉ tiếp nhận chất chân thật của cuộc sống.

Tôi nghĩ chị Tụy Phương xứng đáng với cuốn sách này. Anh Xuân Ngọc đã hoàn thành được một công việc 413lớn, thấm đậm nghĩa tình, giàu tình, giàu nghĩa với người yêu, người vợ, người đồng chí, với các con, các cháu, với bản thân và với cuộc đời.

Ngày 26/6/2002

Trần Việt Phương

414THƯ BẠN NGUYỄN VIÊN

Hà Nội, ngày 29/10/2009

Anh Ngọc thân mến,

Anh và tôi quen biết nhau trong các công tác nghiên cứu kinh tế tổng hợp qua những năm 1957-1972, 1980- 1982, 1984-2000 ở Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Ngoài các thời gian ấy, tôi đi công tác ở Nam Bộ, Lào, Campuchia, ít có dịp tiếp xúc với nhau. Từ sau năm 2000, tôi nghỉ hưu. Tôi đã có những lần đến thăm anh chị, có hôm nhà tôi cùng đi, trò chuyện với chị bên giường bệnh. Sự gần gũi giữa tôi và anh dường như chủ yếu là do tính chất đối đãi chân thật với nhau cũng như trong các quan hệ khác ở cơ quan.

Gần đây tôi đến thăm anh mới biết chị đã qua đời hơn hai năm nay. Ngoài việc cùng nhau trao đổi về đôi sự kiện đáng quan tâm trong cuộc sống chung, tôi có những xúc cảm sâu đậm về mối tình tuyệt đẹp của anh chị. Xin ghi lại một số dòng hoài niệm thân tình.

415Nhìn lên bàn thờ chị, trước tấm ảnh và bức tượng bán thân của chị, tôi xin phép thắp một tuần hương kính viếng hương hồn chị, cầu chúc chị đời đời yên nghỉ và vẫn luôn có mặt hằng ngày đằm thắm bên anh.

Tôi xót xa nhận thấy anh ứa nước mắt. Rồi anh trao tập hồi ký của anh cho tôi xem. Thấy tôi quan tâm, sau đó anh bảo một cháu gái đem đến nhà cho tôi xem tiếp. Tôi đã đọc kỹ tập hồi ký ấy và đọc lại quyển Nghĩa tình năm tháng cuộc đời nói về chị Lê Tụy Phương, do chị và anh cùng chấp bút (biếu vợ chồng tôi năm 2002).

Qua các tư liệu phong phú ấy, đã thể hiện khá rõ các khía cạnh khác nhau về cuộc sống lứa đôi gần 65 năm của anh chị, bao gồm gần 40 năm bình yên và 26 năm chị trải qua bạo bệnh ngày càng nặng hơn, anh và các cháu hết lòng chăm sóc. Cuốn hồi ký về chị viết khá rõ các hoạt động yêu nước và cách mạng của anh chị cùng các đóng góp công sức, tâm huyết rất quý báu rất sớm sủa đối với các phong trào và sự kiện lớn của Đảng ta. Tình yêu đẹp đẽ của anh chị đương nhiên có phần xuất phát từ điều ấy, bao gồm đầy đủ các nhân tố cần thiết để được phát sinh, phát triển bền vững, thắm thiết, tạo nên sự đồng cảm, hòa hợp máu thịt khăng khít. Đó là hai bạn học cùng trường, cùng học giỏi, cùng độ tuổi, cùng chí hướng yêu nước và cách mạng, trao gởi cho nhau mọi tâm tình, quý mến và tin cậy nhau, cùng hứa hôn rồi cưới hỏi, nương tựa nhau trong mọi mặt của đời sống. Cùng với các nhân tố ấy, đã có được cái cơ duyên mở ra, bắt đầu 416và thúc đẩy cả quá trình ngày càng gắn kết giữa hai anh chị. Đó là việc chị chủ động đến nhà anh để truyền đạt ý của thầy giáo cần gặp anh, rồi hai bên cùng trò chuyện với nhau bao nhiêu điều riêng tư, sâu kín. Không có sự đột biến ấy, có thể anh cứ đi qua trước nhà chị mà vì rụt rè, chưa chắc đã tiếp cận được, vẫn "kính nhi viễn chi"! Dù trải qua những năm gian khó tham gia hai cuộc kháng chiến, anh chị và các cháu đã sống với nhau trong môi trường rất hạnh phúc, rất êm ấm. Rồi không thể lường trước được, đã tiếp diễn 26 năm chị mang bệnh, tuy vẫn sống nhưng rất vật vã, nhọc nhằn. Anh cùng các con đã hết lòng chăm sóc, chạy chữa, mong phục hồi sức khỏe, đặc biệt luôn trìu mến, nâng niu, khích lệ. Trong đời thường, không ít trường hợp đó là dịp thử thách lòng chung thủy. Với anh, luôn luôn biểu hiện tình yêu thương, điều đó là hiển nhiên, tự nhiên từ tấm lòng keo sơn chỉ càng thêm mặn nồng, ấm áp, thắm thiết, như thể hơi thở của lồng ngực, nhịp đập trái tim cùng hòa hợp, đồng cảm giữa hai người. Có thể nhờ đó chị đã kéo dài tuổi thọ được nhiều năm trên giường bệnh. Chính như anh đã ghi: bên mình anh, mỗi buổi sáng, chị nắm tay anh thay cho lời nói! Những phút trầm ngâm ấy là nhịp điệu riêng biệt của những bản tình ca, là tín hiệu của sự chia sẻ, của lòng yêu thương, của niềm vui có được bên nhau, yên tâm và tin cậy. Rồi chị qua đời. Đã bao lần anh khóc thầm và không sao ngăn được nước mắt cứ ứa ra. Anh đã ghi trong hồi ký: "Tôi hằng ngày nói chuyện với 417mình, tôi đang khóc đây"... "Tôi muốn gào thét thật to nỗi đau cho động thấu trời"!

Các bạn bè của anh chị cùng chia sẻ với anh nỗi xót xa ấy. Tất nhiên nỗi đau da diết trong lòng hằng cào xé ấy không thể nào hòà với niềm vui, niềm hạnh phúc. Nhưng nỗi đau ấy chảy máu từ những trái tim yêu, xuất phát từ nền tảng vững chắc, thủy chung của nghĩa tình trọn vẹn, trong sáng, nó có phần cấu tạo nên một mối tình tuyệt đẹp, lung linh ngời sáng, nó không sao có được nếu không tồn tại một niềm hạnh phúc lứa đôi của hai nửa con người hòa nhập làm một cơ thể, một cặp bài trùng bên nhau. Và anh đã khóc, những giọt nước mắt ấm nghĩa tình ấy là những hạt châu trong vắt kết tinh của lòng thương nhớ không thể nào nguôi. Người ta nói, đó là những giọt nước mắt đau thương. Tôi đã chia sẻ với anh khi anh xúc động bằng một câu tiếng Pháp để nói với nhau riêng tư: "Quả thật đó là một niềm hạnh phúc khi anh nhớ thương chị và đã khóc vì nhớ thương chị!" Sự thực, nỗi đau da diết của anh vốn "có hậu" như anh đã ghi: "Ngày tôi và mình gặp nhau trên vườn vĩnh hằng là ngày hạnh phúc nhất của mình và tôi, chúng ta sẽ không bao giờ chia lìa, mãi mãi bên nhau".

Suy nghĩ về chuyện này, tôi nhớ đến câu chuyện một nữ phóng viên người Pháp phỏng vấn ông già Churchill từng là Thủ tướng Vương quốc Anh hồi Chiến tranh Thế giới lần thứ hai:

418"Thưa ngài, thường thường những người đàn ông sống chung với vợ lúc xế chiều tỏ ra chán năn, và không nói ra, nhưng trong bụng thì có ý muốn làm lại cuộc đời với một người đàn bà khác. Vậy ngài có thể cho biết ý kiến ra sao?" Ông già Churchill móm mém cười xòa rồi tự nhiên nghiêm khắc nét mặt hẳn lại, trả lời: "Không, phần tôi không cần suy nghĩ gì hết, tôi có thể trả lời thẳng với cô là nếu tôi làm lại cuộc đời, và lấy vợ, thì tôi lại lấy lại nhà tôi".

Anh Ngọc không phải là chính khách, không ai hỏi anh về chuyện tế nhị ấy. Bình thường từ lâu rồi trong cuộc sống riêng tư, anh chỉ có chị và chị cũng chỉ có anh, hai người không hề đặt ra sự lựa chọn nào khác, chỉ biết có mối tình vĩnh cửu của mình, của nhau, trong cuộc sông trần gian và liên tiếp mãi sau đó. Đẹp, đẹp lắm!

Tôi thấy cần nói thêm một điều, một suy nghĩ của tôi về chị, về tác động của chị trong tình yêu, trong niềm hạnh phúc chung của anh chị. Chị sớm được học hành có trình độ khá vào thời ấy, có gia đình và hăng hái tham gia các hoạt động cách mạng. Dường như anh là một "chàng trai Hà Nội có tính thư sinh" vì thế mà chị yêu anh. Về phần mình, tuy xuất thân trong hoàn cảnh gia đình túng thiếu, anh ít quan tâm đến chuyện "cơm áo, gạo tiền". Chị bù trừ cho anh, tháo vát, quán xuyến, lo toan trang trải cuộc sống bên nội, bên ngoại và cả đàn con trong 419hoàn cảnh kháng chiến, không hề trách tính "vô tư" của anh, mà trái lại, chỉ chú ý làm sao cho anh được yên tâm, dành thì giờ và công sức cho công việc chung. Mặt khác, chị có ý thức bồi dưỡng vốn tri thức của mình, tự nâng cao tầm hiểu biết về lý luận cũng như thực tiễn, không quản khó nhọc trong các hoạt động dân vận, báo chí, say sưa góp phần tìm hiểu tâm lý và giáo dưỡng các lớp trẻ nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, nhất là các cháu gái. Bằng tấm gương nhân hậu, nhiệt tình của mình, chị là một phụ nữ Việt Nam truyền thống và cũng là một phụ nữ Việt Nam hiện đại, cách mạng ở vị trí tiền phong. Chị có cuộc sống riêng của chị với cả ý chí và nghị lực dồi dào, tinh thần say mê công việc và tiến bộ của mình; chị cũng góp phần rất lớn tạo dựng nên mối tình đẹp đẽ của anh chị.

Anh Ngọc thân mến,

Anh đang trải qua 89 tuổi mụ, đầu óc vẫn minh mẫn. Sức khỏe không khỏi có phần sút kém, nhưng được chăm sóc, điều dưỡng chu đáo. Tôi và bạn bè quen biết với anh đều cầu mong anh còn sống thọ, vui vầy với các con cháu. Và chúng tôi đều tin chắc anh sẽ hoàn thành việc viết tiếp về cuộc đời của chị và anh, một cuộc đời bình dị không thiếu những nét đặc sắc, đẹp đẽ, khiêm tốn, có tác dụng khích lệ lớp trẻ vươn lên phía trước, nhất là với 420các con cháu của anh chị. Anh coi đó là "bổn phận thiêng liêng" đối với chị, một chất kết dính tạo nên tình yêu đẹp của hai anh chị.

Cầu chúc anh thực hiện xong lời hứa ấy của anh với chị, lưu thêm các tài liệu quý ấy cho con cháu trước khi ra đi.

Anh chị đã sống hạnh phúc, rồi sẽ gặp nhau và mãi sống hạnh phúc, bất chấp ranh giới của sự sống - chết, của khung thời gian hạn hẹp gọi là tuổi thọ của con người.

Thân mến

Nguyễn Viên

421Lê Tụy Phương - Đoàn trưởng đoàn nữ hướng đạo sinh Bạch Liên (1935) Đoàn Thanh niên Dân chủ chào mừng ông Đặng Thai Mai

được bầu vào Viện Dân biểu Bắc Kỳ (người đứng trong cùng cầm bó hoa). Có 3 nữ Thanh niên Dân chủ (bên trái): Trần Thị Minh Châu,

Nguyễn Khoa Diệu Hồng, Lê Tụy Phương (ngồi phía sau bị lấp)